MỤC LỤC
MỞ ĐẦU :
1/ Lời nói đầu
2/ Tại sao con người chúng ta bị bệnh?
3/ Bí quyết Sống Khỏe
4/ Đón bệnh qua nét mặt
5/ Đại Doanh y tuệ tĩnh có bài thuốc trường sinh tuyệt hảo
6/ 9 Điều Y huấn cách ngôn - Hải thượng Lãn Ông
7/ Tư vấn sức khỏe dinh dưỡng
8/ Tập thở bấm huyệt hội âm để kéo dài trận đấu
9/ Sinh lý Hệ tuần hoàn
10/ Học thuyết âm dương
11/ Học thuyết ngũ hành
12/ Học thuyết tạng phủ
13/ Các hoạt động Khí - Huyết - Tinh - Thần - Tân dịch
14/ Đại cương về huyệt - lạc
15/ Nguyên nhân gây bệnh theo y học cổ truyền
16/ Tứ chẩn
17/ Bát cương
18/ Bát pháp
19/ Lịch Sử môn xoa bóp bấm huyệt
20/ Nguồn gốc xoa bóp bấm huyệt
21/ Tác dụng của xoa bóp
22/ Kỹ thuật xoa bóp
23/ Khai thông” trong bấm huyệt Thập Chỉ Đạo
24/ Đại cương về huyệt
25/ Phương Pháp Đo Lấy Huyệt
26/ Đường vận hành mạch đốc
27/ 24 huyệt trên nhâm mạch
28/ 80 huyệt thường dùng trong điều trị Bệnh
29/ Lộ trình và hội chứng bệnh của 12 kinh chính
30/ Xoa bóp, bấm huyệt gan bàn chân phòng chữa bệnh thông thường
31/ Những huyệt đạo nguy hiểm trên cơ thể
32/ Phương Pháp Thực Hành cho nhơn thần ở trong cơ thể mổi ngày cử đốt lể châm cứu
34/ Đại cương Phương pháp tập dưỡng sinh phục hồi sức khỏe
35/ phương pháp thực hành dưỡng sinh
36 Chu kỳ kinh nguyệt và cách tính ngày rụng trứng
1/ Lời nói đầu
Sức khỏe là vàng
Kính thưa quý độc giả,
Khi nói đến sức khỏe, không ai mà không biết rằng:
A/ Vậy, bạn hãy lo giữ gìn sức khỏe.
1. Trước hết, bạn cần giữ cho tâm hồn mình luôn được bình an, thoải mái; hãy vứt bỏ mọi lo âu, buồn phiền, chán nản, vì đó là căn nguyên sinh ra nhiều chứng bệnh. Rút kinh nghiệm bản thân, mỗi khi bạn gặp một chuyện buồn bực, lo lắng, mà không làm chủ được mình, bạn sẽ thấy ăn mất ngon, ngủ không yên, rồi sinh choáng váng, nhức đầu, khó tiêu, táo bón, căng thẳng thần kinh v.v… vô số người đang bị bệnh thần kinh trên nước VIET NAM này. Bởi vậy, bạn hãy:
“Quẳng Gánh Lo Đi Mà Vui Sống” Và
“Đặt Hết Niềm Tin Tưởng Vào PHẬT PHÁP Là Cha Toàn Năng BỒ TÁC là Mẹ Nhân Hiền.”
2. Cố gắng giữ điều độ trong việc ăn uống, ngủ nghỉ, đừng phí sức, nhất là tuổi trẻ sức lực cường tráng mà không biết giữ sẽ mau già, mang nhiều bệnh tật, cũng như bình chứa điện, nếu xài đúng mức sẽ xài được rất lâu dài và trái lại …
3. Bớt ăn thịt và chất béo chừng nào tốt chừng đó, nên ăn cá, rau cải tươi, đậu đũa, đậu hũ v.v…
4. Nhất là cố tránh lạm dụng bia, rượu, hút thuốc v.v… Nếu lạm dụng các thứ trên, có thể coi là thuốc độc giết người, sẽ làm cho chết dần chết mòn, già trước tuổi, gây ra nhiều chứng bệnh nan y, làm khổ cả đời v.v…
5. Năng đi bộ hằng ngày, mùa Đông nên đạp xe tập thể dục trong nhà thay đi bộ.
B/ Thứ đến, tục ngữ có câu: “Đói Ăn Rau – Đau Uống Thuốc”. Nếu cần phải đi nhà thương, đi bác sĩ cũng không nên tiếc tiền khi có thể.
C/ Ngoài ra, chúng tôi hân hạnh giới thiệu một số xoa bóp bấm huyệt ,tập dưỡng sinh bài thuốc gia truyền đã được thực nghiệm suốt mấy mươi năm qua, cũng như khi trị bệnh tại vùng quê hẻo lánh,
Chúng tôi đã thâu góp vào tập sách nhỏ:
Sách bao gồm những bài thuốc được góp nhặt từ các vùng thôn quê hẻo lánh, do các bác sĩ ,Thầy Gia Truyền và các cụ ông, cụ bà cung cấp từ khắp các miền Trung, Nam, Bắc.
Cách điều trị lại rất đơn giản, ai cũng có thể tự làm “Thầy” chữa cho mình và cứu kẻ khác được. Các vị thuốc, toàn là “Cây Nhà Lá Vườn” và các thứ rất dễ Tự chữa bệnh cho mình và người thân
Tập sách nhỏ này được ra đời do sự khích lệ của nhiều quý vị trong đạo ngoài đời, nhất là của một số bệnh nhân mắc chứng nan y, nhà thương đã từ chối, sau khi được chữa khỏi, đã yêu cầu chúng tôi phổ biến rộng rãi cho nhiều người được nhờ. Thú thật, chúng tôi không phải là những thầy thuốc chuyên nghiệp, đâu dám “múa rìu qua mắt thợ”, trong khi biết bao vị danh y đã từng xuất bản những tập sách rất quí giá. Nhưng nhận thấy đây là những bài thuốc gia truyền từ dân gian cung cấp, tác giả là của chung đồng bào khắp miền Trung, Nam, Bắc; chúng tôi chỉ là những người có công đi góp nhặt, hễ biết ai có bài thuốc hay là chúng tôi nhào tới đế “ăn xin”.
Vả nữa, có khá nhiều cách điều trị được thu lượm vào trong tập sách này mà chưa gặp thấy trong các sách khác. Tuy nhiên, cũng có một số bài được phổ biến trên báo chí hoặc trong nhiều sách, trong khi những bài đó chúng tôi cũng học được từ dân gian, nên có sự trùng hợp. Chúng tôi nghĩa rằng ngày nay không còn ai muốn ích kỷ, khư khư giữ độc quyền, để rồi ôm theo xuống mồ, mà bị thất truyền; trái lại còn vui mừng vì những bài thuốc đó được phổ biến tới nhiều người. Hơn nữa chúng tôi làm công việc này chỉ vì thiện ích, chứ không vì tư lợi, nên nếu quý vị thấy có những bài nào trùng hợp, xin cũng vui lòng thông cảm.
Chúng tôi ước mong được các vị cao minh chỉ giáo, và đồng bào góp thêm những bài gia truyền mới, mà chính quý vị đã được chữa lành hay đã chứng kiến người khác được khỏi, để cho tập sách gia truyền này sẽ còn xuất bản tiếp cuốn 2 và 3 …
Làm việc này, thiết tưởng cũng là cách cứu nhân độ thế, hầu mua đức cho mình và con cháu mai hậu; hơn nữa để lưu lại cho hậu thế những môn thuốc tập dưỡng sinh, xoa bóp, bấm huyệt, gia truyền quý báu đã có từ ngàn xưa.
Hiện nay chúng tôi có khá nhiều sách gia truyền và đã nhận được một số bài của một số người quen gửi tới, nhưng chưa được thực nghiệm, nên còn đợi chờ, sẽ xuất bản vào tập 2 trong tương lai.
Đây là một công việc rất nhỏ mọn đối với quý vị, nhưng lại là bước đầu của người biên soạn, nên chắc chắn còn rất nhiều điều vụng về, cần sửa chữa, xin quý đọc giả vui lòng góp ý và gửi bài thêm để giúp cho tập 2 và 3 được sớm thực hiện và hoàn hảo hơn.
2/Tại sao con người chúng ta bị bệnh?
Chúng ta xem sơ đồ dưới đây:
Tóm lại, chúng ta có thể thấy có rất nhiều nguyên nhân làm cho hệ miễn dịch của chúng ta bị suy giảm khiến cho cơ thể chúng ta không đủ sức chống lại bệnh tật như sau:
Sống trên trái đất này, con người chúng ta luôn bị ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt, như PHONG-HÀN-THỬ-THẤP…( gió, khí lạnh, nắng, ẩm thấp…) ngoài ra con người luôn có những tai nạn rủi ro luôn rình rập, hoặc chịu nhiều khí thải độc hại của sự ô nhiễm môi trường thời nay mà sinh ra nhiều thứ bệnh.
Bệnh từ đâu mà phát sinh ra trong cơ thể chúng ta?
Và phải chữa như thế nào cho chóng khỏi ?
Đó là những thắc mắc của nhiều người khi đang có bệnh.
Vậy hôm nay tôi cùng quý vị cùng thảo luận vấn đề này : bệnh từ đâu nó phát sinh ra ?
- Vạn vật ở trên đời này ( nói chung ) con người ( nói riêng ) điều chi phối trong 4 trạng thái : SANH – TRỤ - HOẠI – KHÔNG ! ( SANH là sanh ra và trưởng thành. TRỤ là còn vững ở đời. HOẠI là bắt đầu hư suy, đang hư suy. KHÔNG là cuối cùng mất đi, không còn nữa ).
- Sanh – già – bịnh – chết. Xưa nay không ai tránh khỏi quy luật đó, nhưng đã là con người khi có bệnh ắt phải tìm thầy tìm thuốc để đem lại sức khoẻ , sống thọ là điều tất nhiên !
Do tinh cha huyết mẹ tạo thành, cơ thể con người với hàng trăm tỷ tế bào tạo nên lục phủ ngũ tạng, xương khớp, da lông…, trong đó có TINH – HUYẾT – KHÍ – THẦN – TÂN DỊCH hình thành sự sống khoẻ sống vui, sống minh mẫn…( TINH là sinh dục phát triển, HUYẾT là hồng cầu, là máu, KHÍ là sức đề kháng, là sức lực, là sự trao đổi của oxy…THẦN là sự hiểu biết, nhớ nghĩ, suy đoán…, TÂN DỊCH là nước trong cơ thể làm cơ trơn sự hoạt động của cơ thể…).
Nhưng con người chúng ta phải chịu ảnh hưởng chi phối của thời gian, mỗi cái tích tắc, tích tắc của kim đồng hồ thì các tế bào trong cơ thể chúng ta luôn huỷ diệt.
Bù lại, nhờ sự ăn uống hằng ngày để Tỳ vị ( cơ quan tiêu hóa ) tiếp nhận và hấp thu vào cơ thể nhiều chất sinh năng, chất kiến tạo,chất dự trữ, các sinh tố như Proteins, Vitamine A, B, C,…và các chất khoáng tố như Phosphor, Natrium, Canxi, chất sắc… trong thực phẩm vì vậy chúng được bù đắp, thay thế vào những tế bào cũ đã mất đi, để được tái tạo (sinh ra ) những tế bào mới, để duy trì lại sự sống khoẻ, sống vui…
Nhưng con người chúng ta đến độ tuổi 40, hoặc qua độ tuổi 40 không phải lúc nào cũng ăn ngon, ăn được . Bỡi Tỳ Vị đã đến lúc suy, nên sự hấp thu và tiêu hoá cũng trên đà suy giảm, 10 phần dinh dưỡng vào cơ thể Tỳ vị chỉ hấp thu hơn nửa, một nửa, hoặc dưới một nửa, còn lại nó bị đào thải ra ngoài qua đường đại tiện, từ đó dinh dưỡng không đủ phân phối, bù đắp, thay thế cho những tế bào kia đã và đang dần huỷ diệt, vì thế lục phủ ngũ tạng và toàn thân chúng ta phải chịu lão hoá từng phút từng giây, biến đổi theo thời gian (tóc bạc, da nhăn, mắt mờ tai điếc, gối mỏi, lưng còng…) nên mới sinh ra nhiều chứng bệnh.
Đời sống con người nhờ vào :
-Chức năng Tỳ vị hấp thu thức ăn để sinh ra dinh dưỡng rồi phân bố cho ngũ tạng, rồi ngũ tạng phân bố đem nuôi các chi nhánh của nó như sau :
-Tâm được Tỳ phân bố dinh dưỡng để có đủ chức năng làm lưu thông mạch máu.
- Nếu Tâm (tạm gọi tim ) suy, làm mất ngủ, kinh mạch không thông, khí huyết sẽ trì trệ sinh ra chứng da thịt tê nhức, sự hoạt động cơ thể sẽ mất cân bằng…
- Phế được Tỳ phân bố dinh dưỡng để có đủ chức năng tiếp nhận phân phối khí oxy duy trì sự sống và hoạt động của cơ thể.
- Nếu Phế ( phổi ) suy, hô hấp kém, hít thở không điều hoà, thiếu khí sẽ sinh các chứng hụt hơi, thở khó, mỏi mệt…
- Can được Tỳ phân bố dinh dưỡng để có đủ chức năng nuôi gân, mắt…
-Nếu Can (tạm gọi là gan ) suy không đủ nuôi mắt, nuôi gân…sẽ sinh chứng mắt kém, gân cơ co quắp, đau nhức, co duỗi khó khăn…
- Thận được Tỳ phân bố dinh dưỡng để có đủ chức năng sinh ra tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ nuôi cột sống, xương, khớp…
- Nếu Thận suy, tinh tủy thiếu không nuôi dưỡng được xương khớp, sẽ bị loãng xương, thoái hoá khớp, bấy giờ xương khớp biến dạng, khớp xương nhô ra mọi người thường gọi là “gai”. Gai chèn ép các dây thần kinh nhất là vùng cột sống cổ sinh nhức đầu, tê 2 tay; vùng cột sống lưng sinh chứng đau thần kinh toạ, tê liệt 2 chân v.v…
Sống trên trái đất này, con người chúng ta luôn bị ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt, như PHONG-HÀN-THỬ-THẤP…( gió, khí lạnh, nắng, ẩm thấp…) ngoài ra con người luôn có những tai nạn rủi ro luôn rình rập, hoặc chịu nhiều khí thải độc hại của sự ô nhiễm môi trường thời nay mà sinh ra nhiều thứ bệnh.
³Ngày xưa thế hệ ông bà chúng ta bị cảm thì họ làm sao ?
- Họ nấu nồi lá xông, cho ra mồ hôi, tiếp đến họ ăn một tô cháo hành nóng với nắm lá tía tô, sau đó lau sạch mồ hôi, kế tiếp uống một thang ( hoặc 1 gói bột ) thuốc giải cảm…nhờ thế mà họ luôn khoẻ mạnh cho dến già, ít đau, ít bệnh.
-
³Ngày nay thế hệ chúng ta bị cảm thì họ làm sao ?
- Vì tất bật với cuộc sống trong thời buổi kinh tế, con người luôn hối hả với nhịp sống thời gian. Nhà kinh doanh thì luôn nghĩ đến những hợp đồng, những lợi nhuận lớn trước mắt mà không thể bỏ lỡ cơ hội, người công nhân nếu nghỉ 1 ngày sẽ bị trừ lương 3 ngày thế thì thời gian đâu mà xông hơi, sắc thuốc ?
Trên đường đi làm họ tranh thủ ghé tạt vào tiệm thuốc mua vài viên giảm đau uống vội, 5-10 phút sau “hết bệnh”, đến công ty, phân xưởng họ tiếp tục bắt tay với công việc thường ngày mà không còn thấy bệnh là gì nữa.
Ôi thuốc gì mà hay thế ?
Quý vị cũng biết đó, là những loại thuốc có tính chất làm giảm đau cấp thời, nó ức chế, chận đứng sự nhận biết đau của hệ thần kinh trung ương. Nhưng thực chất cái đau, cái gốc cảm nó vẫn còn đó.
Thế thì nó ở đâu ?...Ở đâu trong cơ thể chúng ta, mà chúng ta không thấy không biết.?
Hôm nay bị cảm, ngày mai bị cảm rồi ta cứ tiếp tục uống thuốc giảm đau. Tháng này, tháng sau và tháng sau nữa. Năm này, năm sau và những năm sau nữa…cho đến một thời điểm nào đó “ ngân hàng bệnh cảm” trong cơ thể chúng ta đã tích lũy một khối lượng tà khí kết sù, nhưng nó lại vô hình nên ta không thể soi thấy bằng máy hay nhìn bằng mắt được.
Chỉ đến lúc cơ thể chúng ta suy yếu ( chánh khí suy, tà khí thịnh : chánh khí là sức đề kháng, tà khí là ngoại cảm từ bên ngoài xâm nhập vào trong cơ thể.) cảm độc lâu nay ẩn sâu, thừa lúc cơ thể chúng ta suy yếu, nó bắt đầu trỗi dậy và hoành hành làm ủng tắt kinh mạch ( khí huyết không lưu thông được ), rồi ta lại tiếp tục uống thuốc giảm đau nữa…cuối cùng gốc bệnh luôn sinh sôi trú ngụ, hoành hành trong cơ thể chúng ta nên mới sinh ra các chứng đau nhức là vậy !
Nhưng rồi quý vị sẽ thắc mắc : nói như trên là nói cho người lớn, còn trẻ con thì sao ?
Trẻ con sinh ra đang tràn đầy sức sống sao lại có những em đã phải mang nhiều thứ bệnh, thậm chí có bé luôn lấy bệnh viện làm nhà ?
Sách Hải thượng Lãn Ông có nói về bệnh TIÊN THIÊN và bệnh HẬU THIÊN .
TIÊN THIÊN là lúc còn trong bào thai ảnh hưởng di truyền của cha mẹ, hoặc người mẹ lao động quá sức, ăn uống thiếu thốn, mẹ nghiện rượu, thuốc lá, ma túy…
HẬU THIÊN là sau khi sinh ra bé chịu ảnh hưởng của môi trường, khí hậu, ăn uống, rủi ro …
Bệnh thì muôn hình vạn trạng, nhưng chung quy có 3 thể loại :
1- Thân bệnh : như đã nói trên do cảm nhiễm phong hàn…của thời tiết, do ăn uống, lao động, do chấn thương…mà sinh ra bệnh.
2- Tâm bệnh : do uất ức, buồn rầu, lo lắng …mà sinh ra bệnh.
3- Nghiệp bệnh : do nhân quá khứ mình lỡ gây ra nhiều điều bất thiện như sát sanh hại mạng…giờ quả báo ấy sinh ra bệnh.
Vậy thì, nếu :
- Thân bệnh :dùng dược lý trị liệu (thuốc thang. Bấm Huyệt Tập Dưỡng Sinh , Châm cứu… chữa trị)
- Tâm bệnh : dùng Tâm lý trị liệu ( Tư vấn, giải bày, an ủi…)
- Nghiệp bệnh : dùng Tín ngưỡng trị liệu (khuyên tu, quy y Phật, Bồ tát…bỏ ác làm lành, chuyên tâm niệm Phật, hồi hướng công đức về oan gia trái chủ…)
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Bí quyết Sống Khỏe
...Hãy nói ra các cảm giác của bạn.
Các cảm xúc và các cảm giác bị che giấu, dồn nén, sẽ kết thúc bằng các bệnh tật như: viêm dạ dày, lở loét, đau ngang lưng, đau cột sống. Với thời gian, việc dồn nén các cảm giác làm sinh ra ung thư. Do đó, chúng ta đến gặp một người tin tưởng được, để chia sẻ những điều thầm kín, “bí mật” của mình, các sai lầm của mình! Được đối thoại, được nói ra bằng lời, là một phương thuốc rất hiệu nghiệm và một cách chữa trị tuyệt hảo!
Nếu bạn không muốn đau ốm...
Nếu bạn không muốn đau ốm...
... Hãy lấy các quyết định.
Người lưỡng lự cứ sống trong ngờ vực, trong tình trạng khắc khoải, trong âu lo. Tình trạng lưỡng lự sẽ tích lũy lại các vấn đề, các lo lắng, và các phản ứng gây hấn. Lịch sử nhân loại được kiến tạo nên bằng những quyết định. Quyết định chính là biết từ khước, biết bỏ đi những món lợi và giá trị để thắng người khác. Những người lưỡng lự là nạn nhân của chứng bệnh về bao tử, đau nhức thần kinh và những vấn đề về da liễu.
Nếu bạn không muốn đau ốm...
... Hãy tìm các giải pháp.
Những người tiêu cực không tìm ra các giải pháp và họ làm cho các vấn đề to thêm. Họ thích than thở, tán dóc, sống bi quan hơn. Thà thắp lên một que diêm còn hơn ngồi than thở về bóng tối. Một con ong thì nhỏ, nhưng nó sản xuất ra những thứ ngọt nhất trên đời. Chúng ta trở thành những gì chúng ta nghĩ tưởng. Suy tưởng tiêu cực gây ra năng lực tiêu cực, năng lực này biến thành bệnh tật.
Nếu bạn không muốn đau ốm...
... Đừng sống theo bề ngoài.
Ai che giấu thực tế, giả vờ, làm điệu bộ và luôn muốn cho người ta có ấn tượng là mình đâu ra đó. Người ấy muốn kẻ khác thấy mình hoàn hảo, mọi chuyện dễ dàng, v.v.. Nhưng đang tích lũy cả tấn khối nặng. Một bức tượng đồng với đôi chân bằng đất sét. Không có gì tệ hại đối với sức khỏe cho bằng sống theo bề ngoài, làm mặt. Có những người có một lớp vỏ dày, mà rễ thì cụt ngủn. Số phận của họ là tiệm thuốc, nhà thương và nhức mỏi đau đớn.
Nếu bạn không muốn đau ốm...
... Hãy chấp nhận.
Từ chối chấp nhận và thiếu sự tự đánh giá tốt bản thân, làm cho chúng ta bị tha hóa. Nên một với chính mình là điểm chính để có một cuộc sống khỏe mạnh. Những ai không chấp nhận điều này, trở thành ghen tỵ, phân bì, thích bắt chước, quá ham cạnh tranh, gây đổ vỡ. Được chấp nhận, hãy chấp nhận rằng bạn được chấp nhận, hãy chấp nhận các phê bình. Đây là khôn ngoan, là lương tri, và là phương pháp trị liệu.
Nếu bạn không muốn đau ốm...
... Hãy tin tưởng.
Ai không tin tưởng, thì không muốn liên lạc với người khác, không mở ra, không liên kết, không tạo được những tương quan sâu sắc và bền vững, không biết đến tình bằng hữu chân thực. Không có sự tin tưởng, thì không có quan hệ.
Ngờ vực chính là thiếu niềm tin nơi bạn và nơi khả năng của chính niềm tin.
Nếu bạn không muốn đau ốm...
...Đừng sống cuộc sống buồn rầu.
Có óc khôi hài. Biết cười vui. Biết nghỉ ngơi. Sống hạnh phúc. Những điều này chan chứa sức khỏe và gia tăng tuổi thọ. Người hạnh phúc có khả năng cải thiện môi trường nơi họ sống. “Óc khôi hài cứu chúng ta thoát khỏi tay bác sĩ". Hạnh phúc là sức khỏe và chữa trị.
Xin bạn gửi điện thư này cho bạn bè để họ khỏi bị đau ốm !
ĐOÁN BỆNH QUA NÉT MẶT
- THÔNG QUA CÁC BIỂU HIỆN BẤT THƯỜNG TRÊN KHUÔN MẶT ,CHÚNG TA CÓ THỂ BIẾT 1 BỘ PHẬN NÀO ĐÓ TRONG CƠ THỂ ĐANG GẶP TRỤC TRẶC
- Tấc cả các căn bệnh của 1 người hầu như điều được thể hiện ra bên ngoài qua các dấu hiệu trên mặc người đó là thường thường các dấu hiệu của bệnh xuất hiện ngay khi bệnh đang trong giai đoạn bắt đầu ...khi có dấu hiệu nghi ngờ ,cũng là lúc căn bệnh bắc đầu tấn công cơ thể .
- Vậy những dấu hiệu gì cần được xem xét ? phương pháp chuẩn đoán được theo mặt được các bác sỉ đến từ thời cổ đại .giáo sư Tasllagova Rosa ,trưỡng khoa y tế dự phòng và y tế cơ bản nhà nước đại học thể dục thể thao và sức khỏe mang tên Lesgaft (St Petersbugr,nga ) cho biết biết ,hầu như tấc cả các cơ quan trong cơ thể có một " vùng chịu trách nhiệm " Trên mặt vì vậy các dấu hiệu bất thường tại các khu vực này cho phép chuẩn đoán bệnh với độ chính xác cao ngay cả khi chưa có dấu hiệu biểu hiện lâm sàn .
- HÃY LƯU Ý; khi có nững dấu hiệu bấc thường ở các bộ phận trên mặt'; ví dụ ;
1. MẮT ; Mắt lồi r có cảm giác nóng có vấn đề về hệ nội tiết ( bệnh basedo ,cường giáp ) Mắt có vằn đỏ ;là biểu hiện của cao huyết áp ) đặc biệt nếu kẻm theo giảm thị lực và có hiện tượng rùi bay trước mắt ) hoặc quá mệt mỏi .
SƯNG MÍ MẮT suy thận VA,viêm xoang .có bọng mắt và những vòng tròn tối màu dưới mắt ; bệnh đường tiết niệu ( thận bàng quang ) Quầng thâm dưới mắt ; một dấu hiệu nhiểm độc đi kèm với các bệnh mản tính .Đỏ mí mắt trên ;viêm viêm niêm mạc dạ dày .Gèn ở khóe mắt và đuôi mắt ;rối loạn chuyển hóa ;gèn mủ .viêm kết mạc .Củng mạc màu vàng gan có vấn đề .
2. SẮC DIỆN ;
- Hai má lúc nào cũng đỏ ,đồng thời sờ vào thấy khô ;Bệnh tiểu đường ,nếu thấy nóng ; Có vấn đề về phổi ( lao phổi ) . Dấu hiệu này thường thấy ở trên má phía lá phổi có bệnh .
Vàng da ; viêm gan ,sỏi mật ( sự tắc nghẽn do sỏi ống mật )
- Những nốt đỏ của mạch máuhiện trên má ;bệnh của túi mật và tuyến tụy .Mạng lưới mao mạch hiện trên má là dấu hiệu khởi đầu của các rối loạn mạch máu ,đầu tien là cao huyết áp . Mặt sưng húp ;bệnh tim mạch ,bệnh thận, Da nhợt nhạt ; bệnh thiếu máu ,.
3. MÔI ; KHÔ,NỨT NẺ ; viêm dạ dày hoặt loét dạ dày
KHÔ MÔI; mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột giảm khả năng miển dịch trong cơ thể
BỊ CHỐC MÉP; có vấn đề ở đường tiêu hóa ,nếu lâu lành là biểu hiện gián tiếp của bệnh tiểu đường.
MÔI NHỢT NHẠT ; Tuyến tụy hoạt động kém ,bệnh tim ,thiếu máu
MÔI TÍM TÁI ;Bệnh tim và phổi ,( suy tim )
THƯỜNG XUYÊN HÉ MIỆNG; Nghẹt mũi ( viêm VA ,viêm xoang )
4. MỤN NHỌT TRỨNG CÁ ; Mụn trứng cá trên cằm có vấn đề về phụ khoa
MỤN TRỨNG CÁ TRÊN TRÁN; có bệnh ở ruột già
5. MŨI ';
- MŨI MÀU ĐỎ NỔI NHỮNG ĐƯỜNG MÀU XANH; Dấu hiệu rối loạn tuần hoàn ngoại vi ( Nghiện rượu ,xơ giữa động mạch ,hệ tim mạch ) .
6. TÓC ;TÓC GIÒN DỄ ĐỨT GẢY; Trao đổi chất không tốt thiếu vitamin .
TÓC XƠ; Một dấu hiệu của các vấn đề nội tiết ,bệnh của dạ dày và ruột .
*** ( theo aif.ru ) ***
ĐỂ PHÒNG BỆNH
- Việc phòng ngừa vẩn tốt hơn là phải đến có bệnh phải điều trị .bằng 1 số phương pháp sau mọi người có thể tự phòng ngừa bệnh lí này.
- Việc phòng ngừa vẩn tốt hơn là phải đến có bệnh phải điều trị .bằng 1 số phương pháp sau mọi người có thể tự phòng ngừa bệnh lí này.
1. TỰ CHĂM SÓC BẢN THÂN ; Bạn nên học cách kiểm soát các chịu chứng suy nhược nhằm cải thiện các chức năng các cơ quan cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống .các chuyên gia về dinh dưỡng .các nhà tham dấn về tâm lí sẻ đánh giá và hướng dẩn bạn một cách cụ thể làm thế nào để bạn tìm thấy cuộc sống thoải mái hơn.
2./ QUẢN LÝ STRESS; Chương trình quản lý stress là một phương án cực kỳ quan trọng cho chính cuộc sống của bạn . Nếu chưa có một chương trình quản lý stress của cá nhân cần tham khảo nhà tâm lý ,thầy thuốc của bạn hoặc tham gia chương trình đào tạo stress hiệu quả .
3. NGỦ ĐỦ GIẤC ; Là hết sức cần thiết ,hãy tập thói quen vào giường ngủ đúng giờ mỗi ngày nên ngủ sớm.
4. RÈN LUYỆN THÂN THỂ THƯỜNG XUYÊN ; Bằng cách tập thể dục rèn luyện các phương pháp cổ truyền như dưỡng sinh ,thiền ,tập Youga .
5. ĐIỀU TIẾT CÔNG VIỆC VÀ CUỘC SỐNG ; Không nên chỉ hóa tập trung cho công việc mà quên hết mọi thứ xung quanh . việc không biết điều tiết giữa nghỉ nghơi và làm việc .khiến bạn kiệt sức và suy nhược nhanh chóng.
6. DUY TRÌ LỐI SỐNG LÀNH MẠNH ; Chế độ ăn cân bằng ,hạn chế rượu cà phê ,thuốc lá ,thư giãn và luyện tập hàng ngày .và uống thực phẩm bổ sung dinh dưỡng .
CHUYỆN SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI
GIÀ là hiện tượng không tránh được ,quá trình quá già là không thể đảo ngược ,Mọi cố gắng của chúng ta là nhằm làm chậm hóa trình đó đảm bảo đảm bảo cho quá trình đó diển biến hài hòa nhất ,con người có sức khỏe tốt nhất và tuổi thọ cao nhất .Muốn đạt được điều đó ,người cao tuổi nhất thiết phải sống thuận với những quy luật của sinh học nội tại của cơ thể ,đồng thời thuận với những quy luật vốn có trong môi trường thiên nhiên cũng như xã hội tác động đến chúng 1 cách có lợi chất cho chất lượng sống ,với tinh thần làm chủ bản thân ,làm chủ thiên nhiên và làm chủ xã hội
,SỐNG THANH THẢN ,LẠC QUAN VÀ VẬN ĐỘNG VỪA SỨC LÀM ĐÚNG ,HIỂU ĐÚNG DÙNG ĐÚNG GIÚP SỐNG THỌ .
- Theo giáo sư người trung Quốc Trần đại Hằng ;" rất nhiều người đả chết không phải vì bệnh tật mà gì thiếu sự hiểu biết về giử gìn sức khỏe "
- Người xưa có 10 quy tắc để có sức khỏe tốt nhất và tuổi thọ cao nhât đó là ;
1--- THIẾU NHỤC ĐA THÁI { ít thịt nhiều rau } ; Ăn thịt cơ thể hấp thụ nhiều đạm , mở ,dể bị huyết áp cao,Ung thư đường tiêu hóa dạ dày ....Rau thực sự là chất giàu dinh dưỡng ,có chứa đầy đủ các chất đạm ,Vitamin cần thiết cho cơ thể ,hạn chế lảo hóa các tế bào so với ăn nhiều thịt động vật
2--- THIỂU ĐƯỜNG ĐA QUẢ { ít đường nhiều trái cây } ; Ăn nhiều đường làm tăng nhiệt lượng hấp thụ và đường tỗng hợp thành mở gây béo tăng nguy cơ bị bệnh đái đường ,đường nhiều trong cơ thể làm tiêu hao nhiều Vitamin Canxi ,. Ăn trái cây để có thêm nhiều Vitamin ,chất khoáng và chất xơ.Chất xơ tuy không có giá trị dinh dưỡng ,nhưng rất cần vì nó giúp đề phòng táo bón, giúp Đẩy nhanh các chất thải của sự tiêu hóa thức ăn đưa các chất độc và Cholesterol thừa ra khỏi cơ thể.
3--- THIỂU PHIỀN ĐA MIÊN { ít phiền muộn ,ngũ nhiều } ; Tấc cả những yếu tố tâm lý bất ổn như thất vọng ,tinh thần sa sút bi lụy ,đố kị ,lo lắng ,bi quan....nếu lặp đi lặp lại hoặc kéo dài điều gây tổn hại đến sức khỏe ,ảnh hưỡng đến tuổi thọ .Khi đi ngũ thì bỏ ưu phiền để có giấc ngủ ngon ngủ sâu, ngủ đủ giấc đủ giờ ( 7 tiếng / ngày ) các bác sỉ tâm thần học của trường đại học California ( mỷ ) vừa phát hiện ra rằng ,những người sống lâu nhất chỉ ngũ 7 giờ mỗi đêm . và ngũ nhiều hơn thì có nguy cơ tử vong sớm cao hơn là ngũ ít hơn ,giấc ngũ giúp phục hồi thần kinh chóng mệt mỏi ,tái tạo sức khỏe .
THIỂU Y ĐA DỤC (Aó ít ,tắm nhiều ) ; Ngoài hô hấp bằng mũi con người còn { thuở } qua da nên mặc quần áo, quần bằng vải mỏng rộng rải và tắm rữa thường xuyên mổi ngày để da hô hấp dể dàng thì con người mới thoải mái
5.--- THIỂU NGÔN ĐA HÀNH ; ( Nói ít làm nhiều ); người nói nhiều thường bị coi là khoác lác ,mấc đi sự kính trọng của mọi người lòng dạ sẻ không thanh thản
6--- THIỂU CỔ ĐA CỐ ( mặn ít chua nhiều ) ; Đã có nhiều công trình nghiên cứu thử nghiệm và có cuộc điều tra dịch tể dinh dưỡng ở thực địa về mối liên quan không thể chối cải giữa mức tiêu hao muối ăn với mức độ thường gặp ở bệnh tăng huyết áp .nên ăn chua nhiều để cân bằng độ Acid trong dạ dày .
7--- THIỄU THỰC ĐA TƯỚC ( ăn ít nhai kỉ ) ; Nên ăn ít lại chia ra nhiều bữa và phải nhai thật kỉ giup cho dạ dày làm bớc việc dù ngon miện cũng không ăn quá no có hại và tăng quá trình lảo hóa
8--- THIỂU NỘ ĐA TIẾU ( giận ít,cười nhiều ); Hết sức tránh cáo gắt gỏng để giảm stress có hại cho sức khỏe .stress là 1 khái niệm bao gồm mọi tác nhân có khả năng gây ra trạng thái căng thẳng về tinh thần và từ đó ,gây ra những biến động từ nhẹ đến nặng đối với cơ thể con người .Nhiều trung tâm y học trên thế giới đã áp dụng tiếu lợi pháp (ge1lotherapie 0 phương pháp điều trị bằng tiếng cười.
9--- THIỂU DỤC ĐA THÍ (ham muốn ít bố thí nhiều ) ; Nên xây dựng một nhân sinh dúng đắn phù hợp với những lí tưỡng cao đẹp .tránh những tính toán vụn vặt ,những ham muốn vật chất quá mức ,ham muốn danh lợi ,địa vị ,vị kỷ ,những lo âu căn thẳng triền miên rất có hại cho sức khỏe và là một nguyên nhân giảm tuổi thọ đáng kể của con người ...Hãy vui vẻ thỏa mãn với những gì mà người bình thường được hưởng giúp đở .những người chung quanh ta sẻ làm cho người cao tuổi tự tin hơn ,giảm nguy cơ trầm cảm,sống khỏe và hạnh phúc.
10--- THIỂU XA ĐA BỘ ( đi xe ít, đi bộ nhiều ) ;Tránh đi xe nhiều tăng cường đi bộ đi bộ là phương pháp tập luyện sức khỏe tốt nhất đối với mọi lứa tuổi .Khoa học tỗng kết đi bộ làm cho động mạch từ " cứng " biến thành " mềm " ,máu tuần hoàn nhiều khỏe gân cốt ,đồng thời làm giảm lượng mở và các cạn bả trong máu .Mỗi lần đi bộ ít nhất 3km ,mỗi tuần đi bộ ít nhất 5 lần
BÍ QUYẾT KÉO DÀI TUỔI THANH XUÂN
- HẲN NGƯỜI PHỤ NỬ NÀO CŨNG ƯỚC AO RẦNG NĂM 40 tuổi bạn muốn mình trông như còn 21 .đây không phải chỉ là ước mơ là bạn điều có thể đạt được ! nếu bạn thực sự muốn mình trẻ trung lâu dài thì hảy nổ lực ,chắc chắn bạn sẻ thành công .
- Tấc nhiên không phải người nào cũng đủ tiền để lao vào những cuộc thẩm mỹ đắt tiền ,song còn có những phương pháp khác để giúp duy trì tuổi xuân .nói chung bạn có 2 lựa chọn; hoặc buồn phìên khi thấy mình già khi nhìn vào gương ,hoặc nổ lực tối đa để kéo dài tuổi trẻ và sức khỏe càng lâu càng tốt .
Các nhà khoa học ,các chuyên gia dinh dưỡng ,bác sỉ nhà tâm lý và xã hội học của mỹ đả hợp lực với nhau để giúp bạn tìm được con đường tới tuổi trẻ và vẻ đẹp mãi mãi .
1 / Hãy chú ý theo dõi tình trạng sức khỏe của răng và khoang miệng .Hãy đánh răng ít nhất 2 lần mổi ngày ,tốt hơn nếu làm việc đó sau mổi lần ăn .hãy điều đặn đến bác sỉ nha khoa .
2 / Thay vì đi thang máy ,hãy đi cầu thang bộ việc đó giúp cũng cố rất tốt chân và hệ tim mạch
3 / Hãy bơi thường xuyên hơn - nước cho bạn lượng dự trử vô tận năng lượng sống ,còn việc bơi rất có lợi đối vời cơ thể .
4 / Hãy niềm nở và giao tiếp với càng nhiều người càng tốt .
5 / Đừng than phiền ! hãy quên đi việc than vãn hàng ngày về tình trạng sức khỏe xấu , nếu có người hỏi ; sức khỏe của bạn thế nào @ ? - Hãy trả lời rất tuyệt vời mọi người chúng ta đều có bệnh của mình ,nhưng hoàn toàn không cần nói về điều đó .
6 / Hãy tập thể thao ,tốt hơn hết là không thực hiện việc đó 1 cách đơn độc ,mà cùng với hội bạn bè ,để có điều đó ,hãy gi tên ,ví du ,vào câu lạc bộ tập thể hình hay bơi.
7 / Hãy ăn nhiều rau xanh - những thực phẫm đó giàu các chất hữu ít và giúp giữ thân hình cân đối .
8 / Hãy hướng tới sự tích cực .nếu trong đầu bạn có những ý nghĩ tốt ,thì sẻ cảm thấy cuộc sống vui sướng hơn.
9 / Sinh hoạt tình dục là 1 phần không tách rời khỏi cuộc sống bênh cạnh rất nhiều cảm xúc tích cực và sự giải tỏa về tâm lý ,nó làm cho bạn cân đối hơn
10 / Hãy uống nhiều nước để thanh lọc cơ thể ,Điều đó cho phép gìn giử tính đàn hồi và mềm mại của da
11 / Nếu phơi nắng bạn hãy dùng kem chóng nắng .
12 / Hãy uống nước ép trái cây .Đa số những người sống lâu trên hòn đảo núi lữa tahiti vẩn sử dụng đồ uống thức uống nước ép trái cây cũng là khẫu phần ăn
** ĐẠI DOANH Y TUỆ TĨNH CÓ BÀI THUỐC TRƯỜNG SANH TUYỆT HẢO
" Bế tinh dưỡng khí tồn thần
Thanh tâm quả dục thủ chân luyện hình "
TINH ; Là cơ sở vật chất và sinh tinh dục ,
Bế tinh giữ tinh luôn đầy đủ thì người mới khỏe mạnh
Dưỡng khí giữ sức mình luôn được cường tráng tránh lao động và chơi bời quá mức độ
Tồn thần giữ tin thần luôn thoãi mái ,bình iên tránh giận hờn buồn lo .
Thanh tâm quả dục ; giảm sự ham muốn tiền tài ,danh vọng để lòng trong sạch thảnh thơi
Thủ chân luyện hình ; Luyện thân thể khỏe mạnh mới giữ được chân khí tốt,ngăn ngừa bệnh tật
Theo tuyên ngôn Victoria 4 nền tảng lớn nhất của sức khỏe là ; " Ăn uống hợp lí vận động vừa sức giảm rượu bõ thuốc ( thuốc lá ) cân bằng tâm lí theo bác sỉ người trung quốc Hồng Chiêu Quang ,nếu thực hiện4 nền tảng về sức khỏe noí trên có thể giảm 55% bệnh đái tháo đường ,1/3 bệnh ung thư ,75% bệnh xuất huyết nảo ,50% bệnh tiểu đường và kéo dài tuổi thọ bình quân trên 10 năm.
Bế tinh giữ tinh luôn đầy đủ thì người mới khỏe mạnh
Dưỡng khí giữ sức mình luôn được cường tráng tránh lao động và chơi bời quá mức độ
Tồn thần giữ tin thần luôn thoãi mái ,bình iên tránh giận hờn buồn lo .
Thanh tâm quả dục ; giảm sự ham muốn tiền tài ,danh vọng để lòng trong sạch thảnh thơi
Thủ chân luyện hình ; Luyện thân thể khỏe mạnh mới giữ được chân khí tốt,ngăn ngừa bệnh tật
Theo tuyên ngôn Victoria 4 nền tảng lớn nhất của sức khỏe là ; " Ăn uống hợp lí vận động vừa sức giảm rượu bõ thuốc ( thuốc lá ) cân bằng tâm lí theo bác sỉ người trung quốc Hồng Chiêu Quang ,nếu thực hiện4 nền tảng về sức khỏe noí trên có thể giảm 55% bệnh đái tháo đường ,1/3 bệnh ung thư ,75% bệnh xuất huyết nảo ,50% bệnh tiểu đường và kéo dài tuổi thọ bình quân trên 10 năm.
9 Điều Y huấn cách ngôn - Hải thượng Lãn Ông
9 điều khi học nghành thuốc
1- Phàm người học thuốc, tất phải hiểu thấu lý luận đạo Nho, có thông lý luận đạo Nho thì học thuốc mới dễ. Khi có thời giờ nhàn rỗi, nên luôn luôn nghiên cứu các sách thuốc xưa nay. Luôn luôn phát huy biến hóa, thu nhập được vào Tâm, thấy rõ được ở mắt thì tự nhiên ứng vào việc làm mà không phạm sai lầm.
2- Được mời đi thăm bệnh : nên tùy bệnh cần kíp hay không mà sắp đặt đi thăm trước hay sau. Chớ nên vì giàu sang hoặc nghèo hèn mà nơi đến trước chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém khi lòng mình có chỗ không thành thật, thì khó mong thu được kết quả.
3- Khi xem bệnh cho phụ nữ, góa phụ, ni cô... cần phải có người nhà bên cạnh mới bước vào phòng để thăm bệnh để tránh hết sự nghi ngờ. Dù cho đến con hát, nhà thổ cũng vậy, phải đứng đắn coi họ như con nhà tử tế, không nên đùa cợt mà mang tiếng bất chính, sẽ bị hậu quả về tà dâm.
4- Phàm thầy thuốc nên nghĩ đến việc giúp đỡ người, không nên tự ý cầu vui như mang rượu lên núi, chơi bời ngắm cảnh, vắng nhà chốc lát, lỡ có bệnh cấp cứu làm cho người ta sốt ruột mong chờ, nguy hại đến tính mạng con người. Vậy cần biết nhiệm vụ mình là quan trọng như thế nào"
5- Phàm gặp phải chứng bệnh nguy cấp, muốn hết sức mình để cứu chữa, tuy đó là lòng tốt, nhưng phải nói rõ cho gia đình người bệnh biết trước rồi mới cho thuốc. Lại có khi phải cho không cả thuốc, như thế thì người ta sẽ biết cảm phục mình. Nếu không khỏi bệnh cũng không có sự oán trách và tự mình cũng không hổ thẹn.
6- Phàm chuẩn bị thuốc thì nên mua giá cao để được loại tốt. Theo sách Lôi Công để bào chế và bảo quản thuốc cho cẩn Thận. Hoặc theo đúng từng phương mà bào chế, hoặc tùy bệnh mà gia giảm. Khi lập ra phương mới, phải phỏng theo ý nghĩa của người xưa, không nên tự lập ra những phương bữa bãi để thử bệnh. Thuốc sắc và thuốc tán nên có đủ. Thuốc hoàn và thuốc đơn nên chế sẳn. Có như thế mới ứng dụng được kịp thời, khi gặp bệnh khỏi phải bó tay.
7- Khi gặp bạn đồng nghiệp, cần khiêm tốn, hòa nhã, giữ gìn thái độ kính cẩn, không nên khinh nhờn. Người lớn tuổi hơn mình thì kính trọng; người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì mình nhân nhượng; người kém mình thì dìu dắt họ. Giữ được lòng đức hậu như thế, sẽ đem lại nhiều hạnh phúc cho mình.
8- Khi đến xem bệnh ở những nhà nghèo túng hoặc những người mồ côi, góa bụa, hiếm hoi, càng nên chăm sóc đặc biệt. Vì những người giàu sang không lo không có người chữa, còn người nghèo hèn thì không đủ sức đón được thầy giỏi, vậy ta để tâm 1 chút họ sẽ được sống 1 đời. Còn như những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc, lại còn tùy sức mình chu cấp cho họ nữa. Vì có thuốc mà không có ăn thì cũng vẫn đi đến chỗ chết. Cần phải cho họ được sống toàn diện mới đáng gọi là nhân thuật. Còn những kẻ vì chơi bời phóng đãng mà nghèo và mắc bệnh thì không đáng thương tiếc lắm.
9-Khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí bất thường mà mình cầu cạnh, thường hay bị khinh rẻ. Còn việc tâng bốc cho người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện. Cho nên nghề thuốc là thanh cao, ta càng giữ khí tiết cho trong sạch. Tôi xét lời dạy bảo của các bậc tiên hiền về lòng tử tế và đức hàm dục, rèn luyện cho mình rất chặt chẽ và đầy đủ. Đạo làm thuốc là 1 nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người và vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi, kể công. Tuy không có sự báo ứng ngay nhưng để lại âm đức về sau. Phương ngôn có câu : "Ba đời làm thuốc có đức thì đời sau con cháu tất có người làm nên khanh tướng" đó phải chăng là do có công vun trồng từ trước chăng" Thường thấy người làm thuốc, hoặc nhân bệnh cha mẹ người ta ngặt nghèo hoặc bắt bí người ta lúc đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp : bệnh dễ chữa bảo là khó chữa, bệnh khó bảo là không trị được, giở lối quỷ quyệt đó để thỏa mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương. Chữa cho nhà giàu thì tỏ tình sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhà nghèo thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay. Than ôi! Đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng mua bán, như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được!".
2- Được mời đi thăm bệnh : nên tùy bệnh cần kíp hay không mà sắp đặt đi thăm trước hay sau. Chớ nên vì giàu sang hoặc nghèo hèn mà nơi đến trước chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém khi lòng mình có chỗ không thành thật, thì khó mong thu được kết quả.
3- Khi xem bệnh cho phụ nữ, góa phụ, ni cô... cần phải có người nhà bên cạnh mới bước vào phòng để thăm bệnh để tránh hết sự nghi ngờ. Dù cho đến con hát, nhà thổ cũng vậy, phải đứng đắn coi họ như con nhà tử tế, không nên đùa cợt mà mang tiếng bất chính, sẽ bị hậu quả về tà dâm.
4- Phàm thầy thuốc nên nghĩ đến việc giúp đỡ người, không nên tự ý cầu vui như mang rượu lên núi, chơi bời ngắm cảnh, vắng nhà chốc lát, lỡ có bệnh cấp cứu làm cho người ta sốt ruột mong chờ, nguy hại đến tính mạng con người. Vậy cần biết nhiệm vụ mình là quan trọng như thế nào"
5- Phàm gặp phải chứng bệnh nguy cấp, muốn hết sức mình để cứu chữa, tuy đó là lòng tốt, nhưng phải nói rõ cho gia đình người bệnh biết trước rồi mới cho thuốc. Lại có khi phải cho không cả thuốc, như thế thì người ta sẽ biết cảm phục mình. Nếu không khỏi bệnh cũng không có sự oán trách và tự mình cũng không hổ thẹn.
6- Phàm chuẩn bị thuốc thì nên mua giá cao để được loại tốt. Theo sách Lôi Công để bào chế và bảo quản thuốc cho cẩn Thận. Hoặc theo đúng từng phương mà bào chế, hoặc tùy bệnh mà gia giảm. Khi lập ra phương mới, phải phỏng theo ý nghĩa của người xưa, không nên tự lập ra những phương bữa bãi để thử bệnh. Thuốc sắc và thuốc tán nên có đủ. Thuốc hoàn và thuốc đơn nên chế sẳn. Có như thế mới ứng dụng được kịp thời, khi gặp bệnh khỏi phải bó tay.
7- Khi gặp bạn đồng nghiệp, cần khiêm tốn, hòa nhã, giữ gìn thái độ kính cẩn, không nên khinh nhờn. Người lớn tuổi hơn mình thì kính trọng; người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì mình nhân nhượng; người kém mình thì dìu dắt họ. Giữ được lòng đức hậu như thế, sẽ đem lại nhiều hạnh phúc cho mình.
8- Khi đến xem bệnh ở những nhà nghèo túng hoặc những người mồ côi, góa bụa, hiếm hoi, càng nên chăm sóc đặc biệt. Vì những người giàu sang không lo không có người chữa, còn người nghèo hèn thì không đủ sức đón được thầy giỏi, vậy ta để tâm 1 chút họ sẽ được sống 1 đời. Còn như những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc, lại còn tùy sức mình chu cấp cho họ nữa. Vì có thuốc mà không có ăn thì cũng vẫn đi đến chỗ chết. Cần phải cho họ được sống toàn diện mới đáng gọi là nhân thuật. Còn những kẻ vì chơi bời phóng đãng mà nghèo và mắc bệnh thì không đáng thương tiếc lắm.
9-Khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí bất thường mà mình cầu cạnh, thường hay bị khinh rẻ. Còn việc tâng bốc cho người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện. Cho nên nghề thuốc là thanh cao, ta càng giữ khí tiết cho trong sạch. Tôi xét lời dạy bảo của các bậc tiên hiền về lòng tử tế và đức hàm dục, rèn luyện cho mình rất chặt chẽ và đầy đủ. Đạo làm thuốc là 1 nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người và vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi, kể công. Tuy không có sự báo ứng ngay nhưng để lại âm đức về sau. Phương ngôn có câu : "Ba đời làm thuốc có đức thì đời sau con cháu tất có người làm nên khanh tướng" đó phải chăng là do có công vun trồng từ trước chăng" Thường thấy người làm thuốc, hoặc nhân bệnh cha mẹ người ta ngặt nghèo hoặc bắt bí người ta lúc đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp : bệnh dễ chữa bảo là khó chữa, bệnh khó bảo là không trị được, giở lối quỷ quyệt đó để thỏa mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương. Chữa cho nhà giàu thì tỏ tình sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhà nghèo thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay. Than ôi! Đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng mua bán, như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được!".
TƯ VẤN SỨC KHỎE DINH DƯỠNG
Tại sao con người bị bệnh, Chúng ta hãy cùng tìm hiểu, để từ đó biết được cách phòng ngừa và chữa bệnh tận gốc.
Hãy cùng bắt đầu từ "Tế bào bị đói dưỡng chất lâu ngày".
Cơ thể con người do hàng trăm tỷ tế bào cấu tạo nên. Hằng ngày, có hằng triệu tế bào già chết đi và hàng triệu tế bào mới ra đời để thay thế. Nhưng các tế bào mới sinh ra không được chúng ta cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết (khoảng 90 chất) thì chúng sẽ yếu ớt, không thể liên kết chặt chẽ với nhau được, nên sẽ không chống đỡ được với các loại vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, làm cho các cơ quan phần mềm bị tổn thương, biến thành bệnh, dẫn đến các hệ tuần hoàn, hô hấp tiêu hóa.....mất cân bằng, đặc biệt là các hệ miễn dịch không còn khả năng tiêu diệt các loại vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể. Từ đó phát sinh ra bệnh tật, bệnh nặng thì dẫn đến tử vong. Con người bị tử vong 95% là do bị bệnh, chỉ có 5% là do các nguyên nhân khác như tai nạn.
Như vậy, nguyên nhân chính của các loại bệnh là do cơ thể không được cung cấp đủ dưỡng chất. Cơ thể chúng ta cần khoảng 90 chất, gồm có 60 khoáng chất (sắt, đồng, kẽm, Selen, calcium, Magnesium, Manganese .....) và 16 vitamin, 12 acid amine đạm, acid amine béo. Các khoáng chất chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ, nhưng nếu thiếu chúng, cơ thể chúng ta sẽ bị rất nhiều bệnh tật.
Ví dụ:
Thiếu Iốt sinh ra bệnh bướu cổ.
Thiếu đồng sinh ra phình động mạch, bạc tóc
Thiếu Selen sinh ra bệnh nhồi máu cơ tim.
Đặc biệt thiếu Calcium sẽ bị 147 loại bệnh tấn công.
Điều này đã được Tiến sĩ Wallloc người Mỹ chứng minh, những nghiên cứu của ông đã được giải thưởng Nobel về y khoa năm 1991.
Những chất dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể từ hai nguồn.
1) Thức ăn hằng ngày
2) Nguồn dinh dưỡng bổ xung
Câu hỏi mà chúng ta cần phải đặt ra là:
"Nguồn thức ăn hằng ngày của chúng ta hiện nay có cung cấp đủ 90 chất cho cơ thể không?". Câu trả lời "không đủ". Vì sao?
Theo Tiến sĩ Walloc phân tích:
Rau trái, hoa quả, cây lương thực mà chúng ta gieo trồng trên các cánh đồng mà hàng ngàn năm nay đã được bao bọc bởi hệ thống đê điều để chống lụt, là điều cần thiết, tuy nhiên, mặt trái của nó là hàng năm lũ lụt không thể tràn về, mang phù sa phủ lên các cánh đồng với các khoáng tố như Calcium, sắt, đồng, kẽm, Magnesium....Thêm vào đó, đất đai còn bị vắt kiệt chất dinh dưỡng do tăng thêm nhiều vụ mùa trong một năm, dẫn đến chất lượng cây lương thực, hoa màu, rau, quả ngày càng kém đi. Các nhà nghiên cứu đã thấy rằng lượng Calcium trong rau quả hiện nay chỉ còn bằng 1/5 lượng calcium cách đây 100 năm.
Ngoài ra, như chúng ta thấy do cách thức chế biến thức ăn, thói quen ăn uống lệch lạc, ăn các thức ăn không cân bằng, sự căng thẳng của cuộc sống hiện đại, cũng làm khả năng hấp thụ của bộ máy tiêu hoá bị giảm sút theo thời gian khiến cho các chất dinh dưỡng được hấp thụ vào cơ thể qua đường ăn uống hằng ngày không đủ.
Các chất cần cung cấp cho cơ thể bị thiếu hụt như:
khoáng chất, vitamin, chất xơ.
Còn các chất cung cấp thừa như:
Chất bảo quản thực phẩm, thức ăn nhiều chất béo, chất đạm, đường, muối, mỡ động vật và các độc tố do ô nhiễm môi trường. Hậu quả là:
Khi thiếu chất dinh dưỡng, thì khả năng miễn dịch của cơ thể bị suy giảm, không thể bảo vệ cơ thể chống bệnh tật. Các hệ trong cơ thể bị mất cân bằng dẫn đến bệnh tật.
Để nâng cao sức khỏe, ngoài thức ăn hằng ngày con người từ lâu đã biết tìm đến các nguồn dinh dưỡng bổ xung như:
Các sản phẩm của rừng, thuốc nam, thuốc bắc. Các cây thuốc mọc trên rừng, do đất đai màu mỡ, nên hàm chứa nhiều khoáng chất và các vi chất bên trong. Khi cơ thể được bổ xung đủ các vi chất, sẽ làm tăng sức đề kháng, có thể đẩy lui được bệnh tật.
Ngày nay, nhờ sự phát triển của công nghệ sinh học hiện đại, có thể chiết xuất được từ cây cỏ các vi chất cần thiết, loại bỏ các tạp chất không cần thiết đóng gói thành viên rất tiện sử dụng để bồi bổ dưỡng chất cho cơ thể, đó gọi là thực phẩm chức năng.
Thực phẩm chức năng có hoạt tính cao hơn thực phẩm thông thường chúng ta vẫn ăn hằng ngày. Thực phẩm chức năng được sản xuất dưới dạng đã được iron hóa, mang điện tích âm, còn tế bào đường ruột trong người mang điện tích dương, nên khi vào cơ thể nó sẽ nhanh chóng được hấp thụ để nuôi cơ thể. Khả năng hấp thụ gần như hoàn toàn. Chính vì vậy, nó có tác dụng bổ sung nhanh cho cơ thể các dưỡng chất mà cơ thể thiếu (do không hấp thụ được qua ăn uống). Thực phẩm chức năng giúp con người điều chỉnh chức năng của các cơ quan trong cơ thể, giúp đào thải các độc tố, nâng cao khả năng miễn dịch, từ đó giúp cơ thể phòng chống bệnh tật, kéo dài tuổi thọ.
Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh, không bị tật bệnh. Người xưa có câu
"Ba phần chữa, nhưng phải bẩy phần dưỡng" Ý nghĩa là khi đã bị bệnh thì phải biết kết hợp chữa bệnh với dưỡng bệnh và dưỡng bệnh quan trọng hơn, giúp cho việc chữa bệnh mau có kết quả và còn giúp cho cơ thể không bị bệnh tái phát.
Khuynh hướng chữa bệnh không dùng thuốc đang trở thành một phong trào trên thế giới. Hằng ngày rèn luyện cơ thể như tập thể dục, chạy bộ, đi bộ, tập yoga hoặc tập thiền....và sử dụng thực phẩm chức năng để bổ xung dưỡng chất, điều chỉnh các chức năng của cơ thể, nâng cao khả năng miễn dịch đang được nhiều người trên thế giới áp dụng để phòng chống bệnh tật, kéo dài tuổi thọ.
Hãy cùng bắt đầu từ "Tế bào bị đói dưỡng chất lâu ngày".
Cơ thể con người do hàng trăm tỷ tế bào cấu tạo nên. Hằng ngày, có hằng triệu tế bào già chết đi và hàng triệu tế bào mới ra đời để thay thế. Nhưng các tế bào mới sinh ra không được chúng ta cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết (khoảng 90 chất) thì chúng sẽ yếu ớt, không thể liên kết chặt chẽ với nhau được, nên sẽ không chống đỡ được với các loại vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, làm cho các cơ quan phần mềm bị tổn thương, biến thành bệnh, dẫn đến các hệ tuần hoàn, hô hấp tiêu hóa.....mất cân bằng, đặc biệt là các hệ miễn dịch không còn khả năng tiêu diệt các loại vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể. Từ đó phát sinh ra bệnh tật, bệnh nặng thì dẫn đến tử vong. Con người bị tử vong 95% là do bị bệnh, chỉ có 5% là do các nguyên nhân khác như tai nạn.
Như vậy, nguyên nhân chính của các loại bệnh là do cơ thể không được cung cấp đủ dưỡng chất. Cơ thể chúng ta cần khoảng 90 chất, gồm có 60 khoáng chất (sắt, đồng, kẽm, Selen, calcium, Magnesium, Manganese .....) và 16 vitamin, 12 acid amine đạm, acid amine béo. Các khoáng chất chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ, nhưng nếu thiếu chúng, cơ thể chúng ta sẽ bị rất nhiều bệnh tật.
Ví dụ:
Thiếu Iốt sinh ra bệnh bướu cổ.
Thiếu đồng sinh ra phình động mạch, bạc tóc
Thiếu Selen sinh ra bệnh nhồi máu cơ tim.
Đặc biệt thiếu Calcium sẽ bị 147 loại bệnh tấn công.
Điều này đã được Tiến sĩ Wallloc người Mỹ chứng minh, những nghiên cứu của ông đã được giải thưởng Nobel về y khoa năm 1991.
Những chất dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể từ hai nguồn.
1) Thức ăn hằng ngày
2) Nguồn dinh dưỡng bổ xung
Câu hỏi mà chúng ta cần phải đặt ra là:
"Nguồn thức ăn hằng ngày của chúng ta hiện nay có cung cấp đủ 90 chất cho cơ thể không?". Câu trả lời "không đủ". Vì sao?
Theo Tiến sĩ Walloc phân tích:
Rau trái, hoa quả, cây lương thực mà chúng ta gieo trồng trên các cánh đồng mà hàng ngàn năm nay đã được bao bọc bởi hệ thống đê điều để chống lụt, là điều cần thiết, tuy nhiên, mặt trái của nó là hàng năm lũ lụt không thể tràn về, mang phù sa phủ lên các cánh đồng với các khoáng tố như Calcium, sắt, đồng, kẽm, Magnesium....Thêm vào đó, đất đai còn bị vắt kiệt chất dinh dưỡng do tăng thêm nhiều vụ mùa trong một năm, dẫn đến chất lượng cây lương thực, hoa màu, rau, quả ngày càng kém đi. Các nhà nghiên cứu đã thấy rằng lượng Calcium trong rau quả hiện nay chỉ còn bằng 1/5 lượng calcium cách đây 100 năm.
Ngoài ra, như chúng ta thấy do cách thức chế biến thức ăn, thói quen ăn uống lệch lạc, ăn các thức ăn không cân bằng, sự căng thẳng của cuộc sống hiện đại, cũng làm khả năng hấp thụ của bộ máy tiêu hoá bị giảm sút theo thời gian khiến cho các chất dinh dưỡng được hấp thụ vào cơ thể qua đường ăn uống hằng ngày không đủ.
Các chất cần cung cấp cho cơ thể bị thiếu hụt như:
khoáng chất, vitamin, chất xơ.
Còn các chất cung cấp thừa như:
Chất bảo quản thực phẩm, thức ăn nhiều chất béo, chất đạm, đường, muối, mỡ động vật và các độc tố do ô nhiễm môi trường. Hậu quả là:
Khi thiếu chất dinh dưỡng, thì khả năng miễn dịch của cơ thể bị suy giảm, không thể bảo vệ cơ thể chống bệnh tật. Các hệ trong cơ thể bị mất cân bằng dẫn đến bệnh tật.
Để nâng cao sức khỏe, ngoài thức ăn hằng ngày con người từ lâu đã biết tìm đến các nguồn dinh dưỡng bổ xung như:
Các sản phẩm của rừng, thuốc nam, thuốc bắc. Các cây thuốc mọc trên rừng, do đất đai màu mỡ, nên hàm chứa nhiều khoáng chất và các vi chất bên trong. Khi cơ thể được bổ xung đủ các vi chất, sẽ làm tăng sức đề kháng, có thể đẩy lui được bệnh tật.
Ngày nay, nhờ sự phát triển của công nghệ sinh học hiện đại, có thể chiết xuất được từ cây cỏ các vi chất cần thiết, loại bỏ các tạp chất không cần thiết đóng gói thành viên rất tiện sử dụng để bồi bổ dưỡng chất cho cơ thể, đó gọi là thực phẩm chức năng.
Thực phẩm chức năng có hoạt tính cao hơn thực phẩm thông thường chúng ta vẫn ăn hằng ngày. Thực phẩm chức năng được sản xuất dưới dạng đã được iron hóa, mang điện tích âm, còn tế bào đường ruột trong người mang điện tích dương, nên khi vào cơ thể nó sẽ nhanh chóng được hấp thụ để nuôi cơ thể. Khả năng hấp thụ gần như hoàn toàn. Chính vì vậy, nó có tác dụng bổ sung nhanh cho cơ thể các dưỡng chất mà cơ thể thiếu (do không hấp thụ được qua ăn uống). Thực phẩm chức năng giúp con người điều chỉnh chức năng của các cơ quan trong cơ thể, giúp đào thải các độc tố, nâng cao khả năng miễn dịch, từ đó giúp cơ thể phòng chống bệnh tật, kéo dài tuổi thọ.
Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh, không bị tật bệnh. Người xưa có câu
"Ba phần chữa, nhưng phải bẩy phần dưỡng" Ý nghĩa là khi đã bị bệnh thì phải biết kết hợp chữa bệnh với dưỡng bệnh và dưỡng bệnh quan trọng hơn, giúp cho việc chữa bệnh mau có kết quả và còn giúp cho cơ thể không bị bệnh tái phát.
Khuynh hướng chữa bệnh không dùng thuốc đang trở thành một phong trào trên thế giới. Hằng ngày rèn luyện cơ thể như tập thể dục, chạy bộ, đi bộ, tập yoga hoặc tập thiền....và sử dụng thực phẩm chức năng để bổ xung dưỡng chất, điều chỉnh các chức năng của cơ thể, nâng cao khả năng miễn dịch đang được nhiều người trên thế giới áp dụng để phòng chống bệnh tật, kéo dài tuổi thọ.
TẬP THỞ VÀ BẤM HUYỆT HỘI ÂM ĐỂ KHÉO DÀI "TRẬN ĐẤU"
Thở là phương pháp trụ cột của thiền, yoga, là bí kíp thượng thừa của bế tinh. Vậy mà đến cuối đời, có người vẫn chưa biết thở cho đúng cách và thở có hiệu quả.
Mỗi ngày chúng ta đều thở trên 10.000 lần, nhưng vì hít thở là một quá trình không tự ý, nhờ sự điều khiển tự động của trung tâm hô hấp ở hành tủy và cầu não, nên con người ít hoặc không quan tâm đến thở. Vì thế, đến cuối đời có người vẫn chưa biết thở cho đúng cách và thở có hiệu quả. Thở là phương pháp trụ cột của thiền, yoga, là bí kíp thượng thừa của bế tinh.
Cách thở
Thực tế, thở đúng cách giúp bạn đạt được nhiều lợi ích. Không chỉ giúp cơ thể tiếp nhận được nhiều oxy hơn, thở đúng cách còn giúp bạn kiểm soát được mọi cảm xúc trong đầu. Chẳng hạn như khi bạn cảm thấy lo lắng, tức giận sẽ thường gặp phải hiện tượng khó thở, thậm chí nghẹt thở. Khi đó, bạn chỉ cần hít thở dài và sâu vài bận là bình tĩnh trở lại, vì hơi thở đã chế ngự kích thích trong đầu của bạn.
Tập thở rất quan trọng trong việc kiểm soát cảm xúc khi ân ái. Cảm xúc kích thích trong ái ân làm gia tăng nhịp tim và hơi thở khiến bạn thở nhanh, thở cạn, cơ lưng và cơ ngực bị co thắt trong lúc giao hoan, hậu quả là bạn bị thiếu dưỡng khí, cái đầu càng bị kích thích thêm. Khi đó nếu bạn thiếu bình tĩnh dưới sẽ không hoàn thành nhiệm vụ. Tập trung kiểm soát hơi thở là cách hay nhất để kiểm soát cảm xúc, kiểm soát được cảm xúc là điều kiện để bế tinh.
Trong lúc ái ân diễn ra, bạn nhớ kiểm soát cảm xúc bằng cách thở ra thật dài, hít vào nhẹ nhàng và sâu nhưng không được cố gắng. Thỉnh thoảng thả lỏng cơ thắt lưng, cơ cổ. Thay vì thở ngực bạn nên thở bụng hay thở cơ hoành (giữa lồng ngực và ổ bụng). Cơ hoành đi sâu xuống rốn sẽ giúp oxy vào phổi rất nhiều so với thở ngực. Cơ hoành là cơ chủ lực đem lại nhiều oxy cho cơ thể chứ không phải cơ ngực. Trong lúc làm việc đó, bạn thở nhiều hơi dài sẽ kiềm hãm được cảm xúc dâng tràn như con ngựa chứng đang phi vào “ngưỡng chết”.
Ấn huyệt hội âm
Một phương pháp nữa là ấn huyệt hội âm - là huyệt nằm giữa hậu môn và tinh hoàn, nơi mà dương vật cắm gốc ở đó. Theo y học phương Đông, hội âm là nơi hội tụ của tất các kinh âm trong cơ thể, mà âm có nghĩa là mát lạnh, có tác dụng ức chế, kiềm hãm cảm xúc. Cơ thể có hai hệ thống kinh mạch trong đó mạch nhâm thuộc âm và mạch đốc thuộc dương và khí âm dương trong kinh mạch được điều hòa nhờ đan điền, là bể chứa khí nằm trong bụng, dưới rốn khoảng 3 đốt ngón tay. Từ đan điền khí xuất nhập và luân chuyển trong hệ kinh mạch.
Hội âm là huyệt bí mật của đời sống tình dục. Ấn huyệt hội âm hoặc luyện tập hội âm được ghi chép trong các tài liệu tình dục cổ xưa. Hội âm là nơi tích tụ khí âm, nằm khiêm tốn phía dưới và sau dương vật. Vai trò của huyệt này là điều hòa cảm xúc của dương vật không cho nó hăng quá mức, nói cách khác là hạn chế dương khí tích tụ trong dương vật trong lúc ái ân. Ấn huyệt hội âm là “kích âm chế dương”, làm giảm năng lượng đang bùng phát trong dương vật.
Trong lúc quan hệ, nếu cảm xúc tăng nhanh gần đến ngưỡng chết, bạn dùng ba ngón tay (trỏ, giữa và áp út) hoặc một ngón giữa ấn sâu vào hội âm vài lần để “kích âm chế dương”, nhờ đó dương khí trong dương vật được điều hòa, năng lượng sản sinh tại túi tinh và dương vật được tản ra dưới xương sống, tạo điều kiện để kéo dài cuộc chiến. Cách khác để kín đáo hơn với bạn tình là bạn có thể ấn cơ vùng hội âm nhiều lần trong lúc quan hệ để giảm kích thích.
Một cách khác để làm thông huyệt hội âm, tăng sức mạnh của cơ vùng chậu, túi tinh và tuyến tiền liệt là tập luyện cơ vùng sinh dục. Cơ vùng này săn chắc sẽ giúp ích cho bế tinh, kéo dài trận đấu. Cách tập đơn giản là co thắt (nhíu) cơ vòng hậu môn (nhíu hậu môn). Có thể tập một ngày từ vài chục đến vài trăm lần. Bài tập này không những có lợi cho tăng cường sức khỏe tình dục, mà còn giúp ích cho chức năng tiết niệu và bài tiết như ngừa chứng tiểu đêm, táo bón và nhất là phòng ngừa bệnh trĩ.
Chiến thuật hưu chiến
Ngoài các chiêu thức phức tạp kể trên, bạn có thể kết hợp với chiêu thức dễ thực hiện hơn - được ghi chép trong sách Tố nữ kinh nói về cách “thoát nạn” lúc sắp “thua trận”, để tập bế tinh. Chiến thuật này gọi là “lui binh, hưu chiến”. Trong lúc ái ân, nếu bạn đã cố gắng dùng phương pháp thở, ấn huyệt hội âm nhưng cảm xúc vẫn không giảm và có cảm giác như sắp xuất tinh thì phải “lui binh, hưu chiến” trước khi tình hình quá muộn.
Cần nhớ rằng lui binh không phải là hèn nhát bỏ chạy, hay ăn gian bỏ ngang cuộc vui với bạn tình. Dù rằng quý bà không ưa phương pháp lui binh của bạn tình nam, nhưng nó là chiến thuật rất hiệu quả. Có hai trường hợp bạn phải lui binh, hoặc do kích thích của bạn tăng nhanh, hoặc do bị bạn tình tấn công dữ dội, bạn không kiểm soát được cảm xúc, theo kiểu “dưới vùng lên, trên bỏ chạy”. Bạn đừng e ngại bị bạn tình chê cười, vì tránh voi chẳng xấu mặt nào, miễn là cứu lính của mình càng sống lâu càng tốt.
Động tác hít khí vào đan điền
Ngoài cách lui binh khỏi vùng chiến sự như kể trên, còn cách lui binh một bước nhưng vẫn nằm trong vùng đất địch, bạn tạm thời nằm im giây lát, thở ra hơi dài cho đến khi muốn đứt thở mới hít vào vừa phải, rồi thở vài lần như vậy thì cảm xúc, kích thích sẽ dịu lại. Khi thở như vậy, nồng độ CO2 trong máu tăng lên, CO2 là khí có tác dụng ức chế hệ thần kinh giao cảm làm giảm kích thích.
Lui binh hưu chiến không những kềm giữ cảm xúc không cho nó tới ngưỡng mà còn “chuyển lửa” về phía bạn tình. Tôn Tử có binh pháp “ta động, địch tĩnh”, nếu ta chủ động tĩnh, địch buộc phải động. Quý bà đã quen thụ động nay phải hành động tức là bị áp lực do bạn tạo ra, cảm xúc quý bà tăng mạnh và bị mất bình tĩnh. Sự nôn nóng hành động sẽ khiến quý bà nhanh chóng đến ngưỡng cực khoái, nhờ đó bạn có thể cầm hòa hoặc thắng trận. Cũng như người phương Đông, người phương Tây cũng có nghiên cứu chiến thuật “Rút quân, đình chiến” để tránh thua cuộc bằng cách cho tạm ngưng trận đấu.
Chỉ khác ở chỗ: thay vì tạm thời lùi một bước, họ cho lui binh ra khỏi vùng chiến đấu rồi lấy các ngón tay bóp vào quy đầu. Mục đích là để tống máu trong đầu dương vật ra bớt để làm giảm bớt căng thẳng, nhờ vậy có thể dừng được xuất tinh. So với chiến thuật lui binh tương đối tế nhị của người phương Đông, cách rút quân lộ liễu của đàn ông phương Tây dễ làm đối tác hụt hẫng mặc dù cũng có hiệu quả trong việc kéo dài trận chiến.
Tóm lại, bế tinh là nền tảng của dưỡng khí, tồn thần, là công phu khó thực hiện nhưng nếu chịu khó thực hành bạn sẽ thành công. Tập luyện bế tinh ngoài tác dụng bồi dưỡng khí lực, còn là cách để tăng cường chức năng tình dục, hoàn thành nhiệm vụ với bạn đời. Sau cùng, kiêng cữ, hạn chế xuất tinh không ảnh hưởng đến cuộc sống gối chăn mà trái lại sẽ duy trì cuộc sống lứa đôi thêm bền chặt. Người xưa có câu: “Bình minh nhất ẩm trà, nhất nhật tam bôi tửu, bán nguyệt dâm nhất độ, lương y bất đáo gia”, đại ý mỗi sáng uống trà, ngày dùng 3 chung rượu, nửa tháng quan hệ một lần, thầy thuốc khỏi đến nhà.
Theo Kiến thức Gia đình
SINH LÝ BỆNH TUẦN HOÀN
NGUYỄN HỮU MÔ
Hệ tuần hoàn là một trong những chức năng quan trọng nhất tham gia vào hằng định của nội môi. Người ta thường ví tim như một cái bơm lớn, vừa hút vừa đẩy máu vào hệ thống ống dẫn kín là mạch.Song bơm và ống dẫn ở đây không cố định ma luôn luôn có thể tăng giảm khả năng hoạt động của chúng để thích ứng với nhu cầu luôn luôn thay đổi của cơ thể. Đó chính là nhờ ở sự điều hoà thần kinh thể dịch ở ngay hệ tuần hoàn cà ở hệ thần kinh trung ương. Do đó , có thể nói là sẽ gặp những rốí loạn tuần hoàn trong hầu hết các tình trạng bệnh lý của tim , mạch, hô hấp và hệ thần kinh. Đúng như Bắc(Bacp) đó nói “ hệ tim mạch là một hệ thống hoàn bị , một đơn vị chức năng , kết hợp chặt chẽ với phổi và dưới sự kiểm soát thường xuyên của hệ thần kinh. Mỗi tổn thương của phổi đều ảnh hưởng tới tuần hoàn , mỗi sự tê liệt của vận mạch sẽ gây nguy hiểm đối với hoạt động của tim”. Nhưng noi như vậy cũng chưa đủ, vì rối loạn các cơ quan khác như gan, thận , nội tiết… cũng co ảnh hưởng tới hoạt động của tim mạchTrong khi nghiên cứu chức năng hệ tuần hoàn, cần quan niệm rẳng sự hoạt động của tim , mạch có liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau trong điều kiện bình thường cũng như trong bệnh lý.
I.KHẢ NĂNG THÍCH NGHI CỦA TIM
Không những cái “bơm tim”có một hiệu xuất rất cao, mà còn co khả năng tăng hiệu xuất đó lên nhiều lần, giúp cơ thể đáp ứng được những nhu cầu bất thường đặc biệt(xem bảng dưới đây)
Hệ tuần hoàn là một trong những chức năng quan trọng nhất tham gia vào hằng định của nội môi. Người ta thường ví tim như một cái bơm lớn, vừa hút vừa đẩy máu vào hệ thống ống dẫn kín là mạch.Song bơm và ống dẫn ở đây không cố định ma luôn luôn có thể tăng giảm khả năng hoạt động của chúng để thích ứng với nhu cầu luôn luôn thay đổi của cơ thể. Đó chính là nhờ ở sự điều hoà thần kinh thể dịch ở ngay hệ tuần hoàn cà ở hệ thần kinh trung ương. Do đó , có thể nói là sẽ gặp những rốí loạn tuần hoàn trong hầu hết các tình trạng bệnh lý của tim , mạch, hô hấp và hệ thần kinh. Đúng như Bắc(Bacp) đó nói “ hệ tim mạch là một hệ thống hoàn bị , một đơn vị chức năng , kết hợp chặt chẽ với phổi và dưới sự kiểm soát thường xuyên của hệ thần kinh. Mỗi tổn thương của phổi đều ảnh hưởng tới tuần hoàn , mỗi sự tê liệt của vận mạch sẽ gây nguy hiểm đối với hoạt động của tim”. Nhưng noi như vậy cũng chưa đủ, vì rối loạn các cơ quan khác như gan, thận , nội tiết… cũng co ảnh hưởng tới hoạt động của tim mạch
Trong khi nghiên cứu chức năng hệ tuần hoàn, cần quan niệm rẳng sự hoạt động của tim , mạch có liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau trong điều kiện bình thường cũng như trong bệnh lý.
I.KHẢ NĂNG THÍCH NGHI CỦA TIM
Không những cái “bơm tim”có một hiệu xuất rất cao, mà còn co khả năng tăng hiệu xuất đó lên nhiều lần, giúp cơ thể đáp ứng được những nhu cầu bất thường đặc biệt(xem bảng dưới đây)
Với những con số trên, nếu ta áp dụng công thức để tính năng xuất cơ tim, thì tỉ lệ công xuất của cơ tim khi làm việc so với lúc nghỉ ngơi có thể tăng tới 20 lần. Sở dĩ tim có thể tăng cường hoạt động như vậy là nhờ ở khả năng dữ trữ năng lượng rất lớn dể có thể hoàn thành chức năng bơm máu khi chu cầu của cơ thể tăng lên đột ngột như trong tiêu hoá, lao động.sốt , hoặc trong những trường hợp bệnh lý khác. Kinh nghiệm lâm sàngcho biết bệnh tim mạch,trong một thời gian , không biểu hiện ra ngoài không thấy phát sinh rối loạn tuần hoàn , ngay cả khi tim mạch đã bị tổn thương.
Tim tăng cường hoạt động được , chủ yếu là dựa vào cơ chế sau đây: tăng tần số tim đập, dãn tim, tim phì đại.
1.Tăng tần số tim đập:Bình thương tim đập 60-80 cái trong vòng một phút. Tuỳ theo nhu cầu của cơ thể cần nhiều máu, tần số tim đập có thể tăng lên nhiều, Được như vậy là nhờ ở những cơ chế sau đây:
Phản xạ Marây(maray):huyết áp ở xoang động mạch cảnh và cung động mạch chủ giảm(như trong sốc, chảy máu nặng, mất nước nghiêm trọng…) tác động lên thụ thể áp lực ở hai bộ phận này và theo đường hướng tâm lên trung khu tim đập nhanh và tăng tần số tim đập nhằm phục hồi huyết áp .
Phản xạ Benbrilgio(Bainbridge):huyết áp ở nhĩ phải tăng(suy tim phải, suy tim toàn bộ )tác động lên thụ thể áp lực ở bộ phận này rồi từ đó lên trung khu tim đập nhanh làm cho tim đập nhanh.
Phản xạ Alam-smiéc(alam_smirk):máu cơ tim không đủ gây ra trạng thái thiếu oxy, tác động trên đoạn cùng của đám rối tim làm cho tim đập nhanh.
Phản xạ tăng tần số tim đập co tác dụng tăng lượng máu tuần hoàn để đáp ứng nhu cầu của cơ thể bất chợt tăng, trong diều kiện mới . Song tim đập nhanh kéo dài sẽ có hại đối với cơ tim vì thời gian tâm chương của chu chuyển tim sẽ ngắn lại, như vậy cơ tim không được nghỉ đầy đủ, ngoài ra , tuần hoàn vành bị hạn chế (vì máu chảy vào động vành chủ yếu vào thì tâm chương). Như vậy, cơ tim sẽ không được nuôi dưỡng đầy đủ, đồng thời nghỉ ngơi không đảm bảo, nên khả năng hoạt động của tim ngày càng một yếu đi.
2. Dãn timMuốn tăng lưu lượng , ngoài tăng tần số đập , tim cong có thể tăng sức chứa của các buồng làm cho máu trở về tim nhiều hơn, đông thời cơ tim tăng khả năng co bóp vào thời kỳ tâm thụ, nghĩa là tăng khối lượng máu mỗi lần tâm thụ. Theo dõi X quang người ta thấy ở vận động viên được rèn luyện tốt tim giãn rộng hơn và bóp chặt hơn so với tim người bình thường. Đó là dãn tim sinh lý. Khi lao động nặng, cả hai cơ chế trên đều được sử dụng. Dãn tâm thất có tác dụng tốt hơn lac tăng tần số đập vì thể tích của tâm thất có thể tăng 4 lần ,trong khi đó tần số đập chi tăng gấp đôi vi tăng quá mức co hại đối với cơ tim(như đã phân tích ở phía trên)
Dãn tim sinh lý còn có thể gặp trong bệnh lý, như hở van tim ở thời kỳ đầu, lúc này, trong thời thời kỳ tâm chương, máu không những ở tâm nhĩ xuống tâm thất mà còn ở động mạch chủ(trong hở van động mạch chủ)hay động mạch phổi(trong hở van động mạch phổi)trở về tâm thất làm tăng thẻ tích của tâm thất, gây dãn tâm thất.
Dãn tim bệnh lý thường gặp trong suy tim khi sức co bóp của cơ tim giảm do bệnh của hệ tim mạch hay do những nguyên nhân ngoài tim mạch.Trong thực nghiệm có thể gây dãn tim đột ngột trên thỏ bằng cách truyền vào tĩnh mạch một số lượng lớn dung dịch sinh lý dưới áp lực cao.
Tóm lại, dãn sinh lý là một trạng thái thích nghi của cơ tim tăng sức chứa của buồng tim đồng thời tăng cường co bóp nhằm tăng lưu lượng tâm thụ va lưu lượng phát, trái lại dãn tim bệnh lý là một trạng thái thụ động thường gặp trong suy tim, do cơ tim mềm nhũn, sức co bóp giảm hẳn nên máu ứ lại gây dãn tim.
3.Tim phì đại:Tim dãn trong một thời gian dài sẽ dẫn tới phì đại tim: theo Sta_linh (staring) sợi cơ càng kéo càng bị kéo dài tới một mức độ nhất định thì sức bóp càng mạnh. Nếu vậy, tim tăng cường hoạt động của một thời gian dài sẽ dần dần trở nên phì đại , các sợi cơ tim to ra, còn số lượng các sợi cơ của tim không thay đổi. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng trương lực của cơ tim càng mạnh thì sức bóp càng khẻo, và như vậy tim sẽ phì đại: quan niệm như vậy sẽ giải thích được những trường hợp tim phì đại mà tim không co dãn tim trước.
Tim phì đại thì sức co bóp của tim tăng, do đó tim phì đại là một cơ chế thích nghi quang trọng của tim trong điều kiện sinh lý cũng như bệnh lý
Cũng như trong dãn tim, cần phân biệt hai loại phì đại:
Phì đại sinh lý:gặp ở những người vận động nhiều(vận động viên, chiến sĩ bộ binh…).Đặc điểm của loại phì đại này là giữa trọng lượng của tim trong lưọng của hệ thống co bóp toàn thân vẫn giữ được tỷ lệ bình thường
Phì đại bệnh lý: gặp trong bệnh lý tim mạch, khi tim phải tăng cường co bóp trong một thơì gian dài (bệnh van tim, huyết ấp cao…).Đặc điểm của loại phì đại bệnh lý là trọng lượng của cơ thể tim tăng không liên quan với trọng lượng của toàn thể hệ thống cơ.
Ngoài ra còn có thể phân biệt hai loại phì đại :
Phì đại đồng tâm : khi toàn bộ cơ tim phì đại thường gặp ở vận động viên, ở những bệnh nhân ưu năng tuyến giáp(do chuyể hoá cơ bản tăng cao nên cơ tim phải tăng cường hoạt động ở người sống trên núi cao (do không khí loãng gây thiếu oxy, tim phải tăng cường hoạt động…)
Phì đại không đồng tâm: khi chỉ có một bộ phận của tim phì đại, thường là phì đại bệnh lý (so tim phải tăng cường co bóp một thời gian dài )
Có trường hợp từ phì đại không đồng tâm trở thành phì đại đồng tâm như trong bệnh van hai lá, lúc đầu chỉ có phì đại tim trái, dần dần phát sinh suy tim trái, gây ứ máu ở tuần hoàn, làm cho timn phải tăng co bóp, dần dần cũng trở thành phì đại
Tim phì đại tới mức dộ nào đó có thể hồi phục được :trong lâm sàng, những bệnh nhân bị huyết áp cao có triệu trứng phì đại cơ tim (trên điện tâm đồ, thấy điện thế cao, trục tim chuyển trái).Nếu điều trị tốt thấy các hiện tượng này mất dần, nói lên quá trình hồi phục của phì đại tim
Tim phì đại là một biện pháp thích nghi quan trọng của tim, song tim phì đại quá độ có thể gây ra trạng thái thiếu oxy cơ tim do khối lượng cơ tim tăng, đòi hỏi nhiều máu nuôi dưỡng, song các mạch của cơ tim không tăng thêm số lượng, khiến cho cơ tim dần dần suy yếu (H1)
Nói tóm lại, khi nhu cầu về máu của cơ tim tăng đột ngột trong diều kiện sinh ly cũng như bệnh lý, tim có khả năng thích nghi rất cao, thông qua ba cơ chế:tim đập nhanh, dãn tim và tim phì đại. Song, nếu tim phải tăng cường hoạt động một thời gian dài, khả năng thích nghi đó phải tăng cường hoạt động một thời gian dài, khả năng thích nghi đó bị kiệt quệ, bây giờ sẽ phat sinh suy tim.
II.SUY TIM
Suy tim xẩy ra khi tim mất một phần hay toàn bộ khả năng co bóp để đẩy ra khỏi tim một lượng máu thích hợp với đòi hỏi của cơ thể.
A-NGUYÊN NHÂN GÂY SUY TIM
Có thể xếp thành hai loại: bệnh hệ tim mạch và nguyên nhân ngoài tim mạch
Bệnh hệ tim mạch:
Nhiễm khuẫn, nhiễm độc: vi khuẩn và độc tố vi khuẩn tác động trên tim gây rối loạn chuyển hoá cơ tim, thậm chí gây tổn thương ở cơ tim để nhanh chóng hoặc dần dẫn tới suy tim (bạch cầu, viêm phổi, thấp khớp.. )
Các bệnh ở tim : như suy tuần hoàn vành, có bệnh van tim, các rối loạn nhịp tim, các bệnh tim bẩm sinh…. Gây khó khăn cho hoạt động bình thường của tim, làm giảm lưư lượng tim, dẫn tới thiêu oxy.Để đảm bảo oxy theo nhu cầu của cơ thể , tim phải tăng cường hoạt động va lâu ngày dẫn tới suy tim.
Mặt khác, khi thiếu oxy, cơ tim là tổ chức chiu đựng thiếu oxy rât kém, cho nên rối loạn chuyển hoá kỵ khí tại cơ tim càng chóng dẫn tới suy tim
Các bệnh ở mạch: huyế áp cao, dù nguyên nhân nào, là một trở ngại đối với hoạt độn của cơ tim và dần dẫn tới suy tim. Trong những trường hợp huyết áp giảm, muốn duy trì được huyết áp binh thường, cần tăng lưu lượng bằng cách tim đập mạnh và tăng co bóp, dần dẫn tới suy tim.
Nguyên nhân ngoài tim mạch :
nhiễm trùng : tăng chuyển hoá, đòi hỏi nhiều oxy, khiến cho tim tăng hoạt động, có thể dẫn tới suy tim
những bệnh ở phổi hen, khí phế nang , xơ phổi)gây ra tình trạng cản trở tuần hoàn tại phổi và muốn đẩy được máu qua phổi, tim phải tăng cường co bóp đồng thời trạng thái thiếu oxy do bệnh phổi sớm muộn dẫn tới suy tim.
thiếu máu buộc tim phải tăng cường co bóp để đảm bảo nhu cầu về oxy của cơ thể sớm muộn cũng dẫn tới suy tim ; thêm vào đó trạng thái thiếu oxy do thiếu máu gây ra lại làm cho suy tim dễ phát sinh
những bệnh chuyển hoá và dinh dưỡng:
ưu năng tuyến giáp gây tăng chuyển hoá cơ bản tăng nhu cầu về oxy do đó tăng hoạt động của tim(chủ yếu tim đập nhanh)
thiếu vitamin B, gây rối loạn tổng hợp axetyl CoA từ axit pyruvic, do đó đã hạn chế quá trình tạo năng lượng cần thiết cho co cơ tim cũng dẫn tới suy tim.
B-CƠ CHẾ BỆNH SINH CỦA SUY TIM
Cơ chế bệnh sinh của suy tim con là một vấn đề rất phức tạp, nhiều điểm chưa sáng tỏ. Tuy nhiên có thể phân biệt ba cơ chế bệnh sinh chủ yếu :
suy tim do quá tải, do tim tăng cường hoạt động trong một thời gian dài.
Suy tim do rối loạn chuyển hoá ở cơ tim
Suy tim hỗn hợp do hai cơ chế trên kết hợp lại
Hiên nay, đa số tác giả cho rằng rối loạn chuyển hoá ở cơ tim là yếu tố bệnh sinh chủ yếu gây ra suy tim . Theo Onxơn(Olson), quá trình chuyển hoá ở cơ timm diễn ra qua 3 giai đoạn:sản xuất năng lượng, bảo quản (tang trữ)năng lưọng và sử dụng năng lượng H2;nếu một trong ba khâu đó bị rối loạn, thấy khả năng c bóp của cơ tim giảm dẫn tới suy tim. Trong suy tim cấp , chủ yếu là do rối loạn tạo năng lượng còn trong suy tim mạnh chủ yếu là do rối loạn sử dụng năng lượng;tuy nhiên, vấn đề còn nhiều điểm chưa rõ.
1. Đặc điểm cơ tim:Khác với cơ xương, co cơ tim là một quá trình liên tục, do đó cơ tim có những đặc điểm sau đây:
Cơ tim có một hệ thống mao mạch rất phát triển, ít ra là một mao mạch cho một sợi cơ; lượng máu cung cấp chơc tim nhiều gấp 10-20 lần so với cơ xương.
Màng tế bào cơ tim đặc biệt mỏng,tạo điều kiện co oxy và các chất dinh dưỡng khuyếch tán nhanh chóng vào trong tế bào
tế bào cơ tim có nhiều ti lạp thể khổng lồ nồng độ cao các men vòng Krep và cytochrom C
2. Suy tim do rối loạn tạo năng lượng:
rối loạn quá trình tạo năng lượng là hậu quả của rối loạn chuyể hoá ở cơ tim , đặc biệt là rối loạn chuyển hoá protein, gluxit, lipit. Men, diện giải, vitamin, oxy_khử. Ngoài rra trong suy tim còn phát sinh những sự tahy đổi về cấu trúc và chức năng của màng tế bào và ti lạp thể (là những trung tâm tổng hợp năng lượng của tế bào):như đã biết, quá trình tạo ATP đòi hỏi sự nguyên vẹn của ti lạp thể bao gồm các men vòng Krép, chuỗi hô hấp tế bào và hệ thống cytochromC(ngay thoái biến kỵ khí gluxit cũng cần ít nhất là 16 men tham gia). Thiếu oxy man tình dẫn tới giảm photphoryloxy hoá cũng gây rối loạn tạo năng lượng.
Cần nhấn mạnh tới vai trò của giảm hoạt tính men (tham gia vào quá trình oxy hoá các cơ chất) trong quá tình tạo năng lưọng ơ tim. Giảm hoạt tính men ở đây là do rối loạn tổng hợp men, hậu quả của vitamin(là coenzym của những phản ứng men quan trọng nhất): thí dụ thiếu vitamin B, gây giảm cocacboxylaza, cần thiết tạo ra axetyl CoA từ axits pyruvic, thiếu vitamin B sẽ ức chế men chuyển amin, thiếu vitamin B gây rối loạn hệ thống chuyển diện tử
3. Suy tim do rối loan sử dụng năng lượng:Như đã biết, co cơ tim chỉ phát sinh khi hoá năng được chuyển thành cơ năng . Trong trương hợp suy tim do rối loạn sử dụng năng lượng , không thấy rối loạn photphỏyl_oxy hoa và thay đổi ATP trong cơ tim bị suy tim mãn tính,nguyên nhân gây suy tim ở đây là giảm khả năng co bóp cơ tim do rối loạn sử dụng năng lượng. Có thể do:
Sự thay đổi cua actin-mýoin(về lượng hoặc chất )do nhiễm trùng nhiễm độc (bạch cầu) hoặc cơ tim lan rộng (do rối loạn tuần hoàn vành)
Giảm hoạt tính ATPaza(trong myosin) đã hạn chế giải phóng năng lượng từ ATP(năng lưọng này cần thiết cho hoạt động của bơm Na+ và K+ nhằm duy trì sự hằng định về gradien giữa Na+ và K+ ở hai bên màng tế bào, còn cần thiết cho sự hoạt động của bơm Ca+và làm đứt liên kết giữa actin và mýoin dẫn tới trạng thái duỗi cơ). Nhiều tác giả thấy giảm hoạt tính ATPaza trong suy tim thực nghiệm và lâm sàng đồng thời thấy khả năng co bóp của cơ tim. Ngoài ra, các ion Mg++và Ca++rất cần thiết cho sự hoạt động của men ATPaza (trong myosin). Do đó thiếu Ca++gây giảm hoạt tính ATPaza dẫn tới rối loạn sử dụng năng lượng và suy tim phát sinh. Thiếu Ca++có thể do Ca++khuyếch tán khó khăn trong cơ tim phì đại, do tơ cơ dày ra, dài ra và còn do những sự thay đổi về cấu trúc của mạng lưới tương cơ và hệ thông T.( chức năng của hệ thống T là để giúp nhanh chóng truyền điện thế hoạt động từ màng tế bào cơ vào tận từng sợi tơ cơ, cong mạng lưới tương cơ thì có liên quan đến sự vận chuyển của ion Ca++cần thiết cho co cơ)
C-RỐI LOẠN CHỈ TIÊU HOẠT ĐỘNG KHI TIM SUY
1. Giảm lưu lượng:Khi tim đã suy, tức là khả năng co bóp cơ tim giảm, tim không đẩy hết lượng máu bình thường (60ml)vào hệ động mạch, do đó lưu lượng tâm thu giảm và để bù dắp vào đó, đôi khi tim đập nhanh.Song như vậy, tim đã yếu nên không tăng tần só được nhiều và càng đập nhanh thì sức co bóp càng giảm.Lưu lượng phút không tăng được bao nhiêu, không đảm bảo được nhu cầu của cơ thể, đồng thời tim buộc phải đập nhanh, nên tim càng suy.
2. Tăng thể tích máu:Trong suy tim , thể tích máu. Một mặt, khi tim suy, co bóp yếu không đảy dược hết máu ra khỏi tim, cho nên máu trở về tim cũng không đầy đủ, và máu sẽ ứ lại ở hệ tĩnh mạch.Máu ứ trệ nên qua thận ít, lọc ở cầu thận giảm, giữ muối và nước, do đó thể tích máu tăng.
Mặt khác, trong suy tim, cơ thể luôn luôn ở trong tình trạng thiếu oxy, tuỷ xương bị kích thích nên tăng sinh hồng cầu, kết quả là thể tích máu tăng
3. Giảm tốc độ máu chảy:Trong suy tim, khả năng co bóp giảm,nên máu chảy chậm, đặc biệt ở hệ tĩnh mạch, do đó máu ứ lại ở phổi trong suy tim trái, máu ứ lại ở hệ tĩnh mạch ngoại vi suy tim phải.
4. Thay đổi của huyết áp:Như đã biết , huyết áp phụ thuộc vào lưu lượng tim và sức cản ngoại vi. Trong suy tim, như trên đã phân tích, lưu lượng tim giảm do thể tích máu trở về giảm và lực co bóp của tim giảm, đồng thời sức cản ngoại vi cũng giảm vì co dãn mạch (do thiếu õy và tuần hoàn chậm) co nên trong suy tim thường thấy huyết áp động mạch giảm.
Còn huyết áp tĩnh mạch bao giờ cũng tăng do tim co bóp yếu , máu chảy chậm, đặc biệt ở hệ tĩnh mạch ngoại vi, gây ứ máu tĩnh mạch. Suy tim trái gây tăng huyết áp tĩnh mạch phổi còn suy tim phải gây tăng huyết áp tĩnh mạch ngoại vi.
5. Công và hiệu suất của tim giảm:Công suất của tim(w)phụ thuộc vào huyết áp trung bình (P=100mmHg đối với động mạch )và lưu lượng tâm thu (Q): W=P.Q Khi tim suy, như đã phân tích, lưu lượng tâm thu giảm, đồng thời huyết áp trung bình cũng giảm, kết quả là công suất của tim giảm.
Nếu mỗi phút cơ tim tiêu thụ 30ml oxy và biết rằng cứ 1000ml oxy tương ứng với 19600N/m(newtơn)thì năng lượng tiêu thụ vào co0ư tim là 588N/m, Vậy hiệu suất của cơ tim bằng 62,23/588(62,23N/m hay Jun ở đây là công của toàn bộ tim trong 1 phút), tức là bằng 10%. Khi tim suy , như đã phân tích ở trên công suất của tim giảm, đồng thời tim suy thường đập nhanh tiêu thụ nhiều oxy hơn,kết quả là hiệu suất của tim giảm.
Do đó, khi nhu cầu oxy của cơ thẻ tăng lên bất thường(sốt, lao động nặng…), thì công của tim suy tăng rất khó khăn. Bấy giờ chỉ còn hai biện pháp là tăng tần số đập và tăng sử dụng oxy. Song khi tim suy, thì không thể tăng tần số được nhiều vì lúc bình thường tim suy đập đã nhanh, còn tăng cường sử dụng oxy cũng bị hạn chế vì bình thường tim đã tiêu thụ nhiều oxy hơn các cơ khác. Do đó, ophát sinh một vòng xoắn bệnh lý làm cho suy tim thêm nặng.
D-RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ TRONG CƠ TIM BỊ SUY
Bình thường, cơ tim cũng như các cơ vân, co cơ là nhờ ở sự thuỷ phân ATP bởi myosin(có hoạt ATPaza cao).ATP cần dùng được cung cấp lâu dài bởi quá trình photphoryloxy hoá, nhưng ngay tức khắc thì bởi nguồn photphocreatin dự trữ:
ADP + photphocreatin à ATP + Creatin
Những cơ tim có điểm khác các cơ vân ở chỗ nó có khả năng hoạt động lâu dài(giống như cơ cánh bay của chim), cho nên chuyển hoá nặng về ua khí. Trong cơ tim có rất nhiều men LDH loại H (khác với LDH loại M ở cơ xương)giúp cho nó chuyển hoá không những axít béo, thẻ xêton mac cả lactat nữa. Khi thiếu oxy , men LDH loại H sẽ không hoạt động được, do đó cơ tim chịu đựng thiếu oxy rất kém
1. Rối loạn chuyển hoá gluxitTim đã suy lại phải tăng cường hoạt động nên càng dễ thiếu oxy, do đó phát sinh nhiều rối loạn chuyển hoá , đặc biệt là rối loạn chuyển hoá gluxit:giảm lượng glucogen trong cơ tim, tăng axit lactic và pyruvic vì cơ tim không chuyển hoá được trong điều kiện thiếu oxy. Rối loạn chuyển hoá các chất trong cơ tim dẫn tới nhiễm toan cố định mà hậu quả là giảm dự trữ năng lượng.
2. Rối loạn chuyển hoá phôtphocreatin:photphocreatin đóng vai trò dây nối giầu năng lượng, tham gia vào co cơ. Photphocreatin là do creatin được photphoryl hoá có giây nối giầu năng lượng nhờ chuyển hoá gluixit mà ra. Như đã nêu trên, trạng thái nhiễm toan đã gây giảm năng lượng của tim, cho nên không có tái hồi phục photphocreatin, tức là không có năng lượng dự trữ tham gia vào quá trình hồi phục ATP
trong cơ tim suy, người ta thấy giảm creatin rõ rệt
3.rối loạn chuyển hoá K+ và Na+:Càng ngày người ta càng thấy vai trò quan trọng của ion K+ và Na+không những trong tính chịu kích thích của sợi cơ mà còn trong quá trình photphory hoá AMP và ADP thành ATP và creatin thành photphocreatin
Trong cơ tim suy, người ta thấy giảm K+ do nhiễm toan, khiến cho quá trình tổng hợp ATP va photphocreatin bị rối loạn. Như vậy, trong cơ tim suy , dự trữ năng lượng giam nghiêm trọng đã hạn chế sâu sắc khả năng đáp ứng với yêu cầu của cơ thể, tức là tim suy.
Tóm lại, thiếu oxy là một ýếu tố quan trọng trong quá trình phát triển suy tim vì binh thường cơ tim đã tận dụng oxy mạnh hơn các cơ vân khác, nên khi cơ thể thiếu oxy nên sự tái tổng hợp lại trong cơ tim, đặc biệt là axit lactic. Cũng do thiếu oxy nên sự tái tổng hợp ATP và photphocreatin giảm làm cho hoạt động của tim yếu đi.
D-CƠ CHẾ CỦA NHỮNG BIỂU HIỆN SUY TIM TRÁI VÀ SUY TIM PHẢI
Như đã nêu trên đây, trong suy tim thường thấy giảm lưu lượng tim và tăng huyết áp tĩnh mạch, do đó ảnh hưởng sâu sắc tới vớí nhiều chức năng sinh lý. Song tuỳ theo suy tim trái hay phải mà biểu hiện cũng như cơ chế khác nhau.
Những biểu hiệnchính của suy tim trái:
a) Khó thở: đây là biểu hiệnthwơng gặp và quan trọng nhất. Người bệnh thường thơ nông và nhanh, có cảm giac ngạt, nhất là sau khi gắng sức(lao động ,lên cầu thang …).Khó thở trong suy tim trái là do tim trái co bóp yếu, không đảy hết máu ,dần dần phát sinh ứ máu ở phổi.Máu ứ ở phổi làm cho tổ tổ chức phổi bớt co giãn đồng thời các mao mạch phổi căng máu gây chèn ép các phế nang,kết quả là hạn chế lượng không khí, gây khó thở. Người bệnh thường hay khó thở khi nằm là do tư thế này gây ứ máu ở phổi nặng nhất,cho nên người bệnh thường ngồi thì dễ thơ hơn. Khó thở khi nằm là một triệu chứng thường thấy khi có suy tim trái, đến khi có suy tim phải thì triệu chứng này giảm cì máu ứ ở tĩnh mạch ngoại vi nên về phổi ít đi ngưòi suy tim trái có những cơn khó thở xẩy ra ban đêm, giống như cơn hen (thường gọi la hen tim) do dây X tăng cường hoạt động trong giấc ngủ, gây xung huyết phổi và co thắt cơ trơn phế quản
b) Phù phổi: máu ứ ở phổi gây tăng áp lực thuỷ tĩnh trong mao mạch phổi khiến nước thoát vào phế nang gây phù phổi ma tính nghe phổi thấy tiếng rên ướt ở cả hai thì đặc biệt rõ ở nền phổi đôi khi, có thể phát sinh phù phổi cấp . Đây là biến chứng nguy hiểm nhất của suy tim trái , thường do tim phải vẫn còn khoẻ bất chợt tăng hoạt động(do gắng sức chẳng hạn) đẩy một số máu quá nhiều lên phổi, đồng thời trạng thái thiếu oxy trong tổ chức đã làm cho thành mao mạch tăng thấm, kết quả là máu sẽ ào ạt vào phế nang gây phù phổi cấp , làm cho bệnh nhân chết trong trạng thái ngạt tối cấp diễn nếu không kịp thời điều trị. Người bệnh giãy dụa, lo sợ làm cho tình trạng nặng thêm vì tim phải tăng co bóp lại càng dồn máu lên phổi. Cho nên trong điều trị người ta làm garo ở chi(hoặc chích máu tĩnh mạch)dể giảm gánh nặng đối với phổi, dung thuốc trợ tim để phục hồi co bóp của tim trái đã bị suy, kết hợp với mocphin để ngưòi bệnh yên tĩnh
c) Phế dung sinh hoạt giảm:tình trạng ứ máu phổi làm giảm tính co giãn của tổ chức phổi , hạn chế thông khí phổi, dẫn tới giảm phế dung sinh hoạt. Suy tim trái kéo dài có thể dẫn tới xơ phổi
2. Những biểu hiện chinh của suy tim phải:Nếu những biểu hiện của suy tim trái phần lớn thuộc về triệu chứng ở phổi thì những biểu hiện của suy tim phải chủ yếu thuộc về khu vực tĩnh mạch ngoại vi
a) Phù: trong suy tim phải do nhiều yếu tố kết hợp lại:
- huyết áp tĩnh mạch tăng đã làm cho nước thoát ra khỏi mạch nhiều, đồng thời cản trở sự tái hấp thu nước từ gian bào vào lòng mạch. Đây là yếu tố chủ yếu
- giảm áp lực keo trong lòng mạch do giảm protein huyết tương (hậu quả của rối loạn chức năng gan)
- ứ đọng nước và muối do giảm lọc ở cầu thận
b) Giảm bài tiết nước tiểu, do lưu lượng máu qua thận giảm, đồng thời ứ máu tĩnh mạch thận gây giảm áp lực lọc ở cầu thận, giảm lượng nước tiểu, dẫn tới ứ muối và nước, gây ra phù
c) Rối loạn chức năng gan: trong suy tim phải, máu ứ ở gan lượng máu ở gan có thể tăng gấp đôi(từ 400 lên 800 ml).Thể tích gan to ra , bờ dưới có thể xuống tới đường rốn. Điều trị tốt, tim phục hồi khả năng co bóp máu lưu thông dễ dàng, gan sẽ nhỏ lại đẻ rồi lại to ra khi tim suy trơ lại. Do đó, mà gan khi to khi nhỏ tuỳ theo khả năng co bóp của tim(gan “đàn xếp”). Dần dần về sau, tình trạng thiếu oxy do tuần hoàn kém kéo dài gây thoái hoá mỡ, rồi quá trình xơ hoá phát triển từ khoảng xung quanh tĩnh mạch gan,lâu ngày dẫn tới xơ gan gây tăng huyết áp gánh và tràn dịch màng bụng(cổ trướng, báng nước)
d )Xanh tÝm: triệu chứng này hay gặp ở ngưòi suy tim đã nặng, thấy rõ ở môi , móng tay… cơ thể có thể là:
-do khối lượng máu lưu thông giảm nên huyết sắc tố không được bão hoà với oxy hemoglobin khử tăng
- các mao mạch, tĩnh mạch bị dãn và ứ máu
3. Trong suy tim toàn bộ:những biểu hiện của suy tim phải cà suy tim trái kết hợp với nhau
Tóm lại, tim là một cơ quan có khả năng thích nghi cao song khả năng này cũng có hạn và khi giảm sút sẽ dẫn tới trạng thái suy tim. Sự hiểu biết về cơ chế suy tim cho ta thấy rõ cần phải chẩn đoán suy tim càng sớm càng tốt để có một chế độ sinh hoạt và điều trị thích hợp đối với bệnh nhân suy tim.
[newpage]
III. RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ CỦA MẠCH MÁU
Những rối loạn hoạt động cuat mạch máu biểu hiện cụ thể ở sự thay đổi của huyết áp
Như dã biết, huyết áp , lưu lượng và sức cản ngoại vi liên quan chặt chẽ với nhau, theo công thức LR/P=K, trong đó L là lưu lượng của tim, R là sức kháng ngoại vi, P là huyết áp và K là hằng số
1.Lưu lượng tim:Lưu lượng tim phụ thuộc vào thể tích máu trở về và sức co bóp của cơ tim
a) thể tích máu trở về. Đó là lượng máu do hệ tĩnh mạch đổ cào tim phải. Bình thường, nó chính là lưu lượng tâm thu trong lòng mạch, hệ thồng tĩnh mạch có một vai tróât quan trọng, vì chứa tới 65-67% toàn bộ thể tích máu, cho nên ứ máu tĩnh mạch sẽ gây giảm lưu lượng tim
b) sức co bóp của cơ tim. Máu trở về tim được nhiều khi tim có khả năng đẩy máu đi. Cơ tim bóp cành mạnh thì thể tích máu trở về cũng như lưu lượng tâm thu càng tăng , do đó huyết áp tối đa và tối thiểu đều tăng
2. Sức cản ngoại vi:Đó là tở lực mà tim phải thắng để dẩy máu từ tâm thất trái tới tim phải. Trở lực này phụ thuộc vào:
độ nhớt của máu:khi độ nhớt tăng, thì tâm thất trái phải tăng cường co bóp mới đẩy máu lưư thông trong lòng mạch. Cho nên trong bệnh tăng hông cầu thường có huyết cao. Trái lại, khi độ nhớt giảm (như trong thiếu máu, máu loãng)thường thấy huyết áp giảm
độ co giãn của thành mạch: đây là yếu tố chính ảnh hưởng tới sức cản ngoại vi. Khi co mạch, sức cản ngoại vi tăng, huyết áp tăng trái lại khi giãn mạch sức cản giảm huyết áp cũng giảm theo. Trong bệnh xơ cứng động mạch và xơ vữa động mạch, thành động mạch giảm co bóp, cứng lại, do đó sức cản ngoại vi tăng và huyết áp tăng ở ngưòi bình thường, huyết áp không thay đổi nhiều , do hoạt động phối hợp của lưu lượng tim vì sức cản ngoại vi: nếu một trong những yế tố bất chơt thay đổi, những yếu tố kia sẽ hoạt động bù ngay,nên ít ảnh hưởng tới huyết áp. Trong điều kiện bệnh ký, những yếu tố trên đây thay đổi quá lớn, vượt khả năng bù đắp, sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới huyết áp, gây giảm hoặc tăng huyết áp.
Ở Việt Nam, khi huyết áp tối đa trên 140mm Hg và huyết áp tối thiểu trên 90mm Hg, được coi là tăng huyết áp. Còn khi huyết áp tối đa dưới 90 mm Hg là có huyết áp giảm
Nếu huyết áp cao là một trạng thái bện lý kéo dài và thường kết thúc bằng một biến chứng nhuy kịch thì huyết áp giảm là một triệu chứng quan trọng như não tim.. Huyết áp giảm thường gặp trong sốc, truỵ tim , mạch ngất. Còn huyết áp cao có thể là một bệnh hoặc một triệu chứng gặp trong nhiều bệnh
A-SỐC
Trong tất cả các trưòng hợp sốc(còn gọi là choáng ), đều tháy huyết àp giảm nghiêm trọng. Đây là một chi tiêu quang trọng để đánh giá mức độ và tiên lượng của sốc. Trạng thái sốc do rất nhiều loại nguyên nhân gây ra (sốc chấn thương, sốc chảy máu, sốc bỏng do độc tố, sốc do truyền máu nhầm loại…) song nổi bật lên là sốc chấn thương do tính chất phổ biến và tính chất nghiêm trọng của nó.
Sốc chấn thương là một trạng thái suy xụp đột ngột của toàn bộ chức năng quan trọng của cơ thể, do chấn thương gây ra :
Sốc do chấn thương chiến tranhlà loại sốc kết hợp , bao gồm nhiều yếu tố : tổn thương nghiêm trọng, mất máu, nhiễm trùng, nhiễm độc, bỏng ,vv...
Sự mệt mỏi quá sức, trạng thái tinh thần căng thẳng, đói khát, nóng lạnh quá độ, cơ thể suy nhược, vv... là những điều kiện thuận lợi cho sốc phát sinh và phát triển .
1. các giai đoạn của sốc chấn thương:
giai đoạn tự bù đắp: biểu hiện bằng hai trạng thái phản ứng:
trạng thái tự bù đắp quá mức và tạm thời (thường được gọi là “sốc cương”) mà đặc điểm là sự tăng cường hoạt động toàn bộ chức năng của cơ thể nói lên trạng thái hưng phấn ở hệ thần kinh trung ưong
bệnh nhânn ở trong trạng thái kích thích ,vật vã, kêu đau, da và niêm mạc nhợt nhạt , mạch nhanh và mạnh, huyết áp tăng, thở nhanh và sâu… Giai đoạn này thường không quá 2-30 phút
trạng thái tự bù đắp kín đáo và tạm thời (gọi là sốc tiềm ) :sốc đã phát sinh những kín đáo, chưa biểu hiện rõ. Thương binh bị thương nặng son đến với huyết áp động mạch bình thường, điều đáng chú ý là mạch nhanh yếu (100-140 đập/phút),mạch vẫn nhanh mặc dù đã được yên tĩnh, tiêm thuốc giảm đau. Trong sốc tiềm, tuy vết thương nặng, khối lượng máu lưu thông (KLMLT)giảm song nhờ có cơ chế bù đắp, co mạch nhẹ nên HAĐM còn giữ được ở mức bình thường, nhưng tim phải làm việc gấp bội để bù vào KLMLT giảm. Do đó, trong sốc tiềm, chỉ cần một chấn thương phụ, mất một lượng máu nhỏ hoặc xử trí muộn là sốc nhược trở lại ngay.
Tóm lại, khi bị chấn thương,cơ thể có những phản ứng thích ứng bằng cách huy động các lực lượng dự trữ để bù đắp vào các rối loạn do chấn thương gây ra. Song sốc cương còn lại là một quá trình tiêu hao năng lượng dự trự và nếu kéo dài sữ có hại, dẫn tới giai đoạn thứ hai là giai đoạn mất bù.
b) Giai đoạn mất bù(thường gọi là sốc nhược)
giai đoạn này biểu hiện sự suy sụp toàn bộ các chức năng quan trọng của cơ thể, nói lên trạng thái ức chế ở hệ thần kinh trung ương, người bệnh nằm yên,thờ ơ với ngoại cảnh, vẫn tỉnh, hỏi thì trả lời yếu ớt, sắc mặt nhợt nhạt, mồ hôi lạnh dính da, thở yếu, mạch nhanh yếu, huyết áp giảm, thân nhiệt giảm… Nếu không kịp thời điều trị, sốc nặng có thể chuyển sanh sốc không hồi phục, gây chết.
cơ chế một số triệu chứng chủ yếu trong sốc chấn thương:
Rối loạn tuần hoànrối loạn vi tuần hoàn. Đây là yếu tố bệnh sinh chủ yếu chi phối quá trình phát sinh, phát triển và kết thúc của sốc
trong sốc cương, dưới tác dụng của Stress chấn thương, catecholamin tăng tiết gây co cơ thắt trước và sau mao mạch(trừ tuần hoàn vành và não), gây thiếu oxy tổ chức do thiếu máu . Co cơ thắt tăng sức cản ngoại vi, làm mở ống thông động tĩnh mạch nhằm dồn máu cho các nội tạng quan trọng như tim , não…(hiện tượng này gọi là trung tâm hoá tuần hoàn). Tới giai đoạn nhược, trạng thái nhiễm toan chuyển hoá- do thiếu oxy tổ chức- làm cho cơ thắt trước mao mạch không nhạy cảm đối với catecholamin, trong khi đó không ảnh hưởng tới cơ thắt sau mao mạch, do đó máu vào mao mạch dễ dàng nhưng thoát ra khó, gây ra thiếu oxy do thiếu máu, khiến cho tổ chức nội tạng bị hoại tử, đặc biệt là hoại tử ruột
do hiện tượng ứ máu kể trên, áp lực thuỷ tĩnh trong mao mạch tăng, gây thoát huyết tương. Ngoài ra do thiếu oxy, tính thấm thành mạch tăng cũng tăng cường hiện tượng thoát huyết tương , thoát huyết tương gây hiện tượng “ quánh máu”và nghẽn mạch vi thể, tạo điều kiện cho hoại tử tổ chức dễ phát sinh
Ứ máu ở hệ thống mao mạch kết hợp với thoát huyết tương dẫn tới giảm KLMLT mà hậu quả là thiếu oxy toàn thân. Có phục hồi được KLMLT( bằng truyền dịch kết hợp với thuốc dãn mạch), điều trị mới đem lại kết quả tốt
b) Thay đổi của huyết áp . Trong sốc cương chấn thương, huyết áp động mạch nhất thời tăng, sau đó giảm, rồi có khuynh hướng hồi phục rồi lại giảm. huyết áp tăng trong giai đoạn cương là do trung khu co mạch hưng phấn và tăng tiết catacholamin gây co mạch (như đã phân tích ở trên ). Đáng chú ý là co mạch trong sốc cương không bền vững : chảy máu thêm không quá 5% tổng lượng máu đủ làm cho huyết áp tụt ngay
tới giai đoạn nhược, huyết áp giảm chủ yếu do giảm KLMLT (như đã phân tích ở trên ), ngoài ra còn do suy mạch cấp (do trung khu vận mạch bị ức chế)
co mạch trong sốc chấn thương là một cơ chế thích ứng bù đắp ứ máu bệnh lý(chủ yếu ở hệ thống gánh )phát sinh sớm và thoát huyết tương, phát sinh muộn, dẫn tới giảm KLMLT, co mạch có tác dụng nâng huyết áp, tạo điều kiện cho cơ thể thích nghi với hoàn cảnh mới
thay đổi của mạch: trong sốc cương, mạch nhanh và mạnh do trung khu tim đập nhanh hưng phấn và do tăng tiết catecholamin. Tới giai đoạn nhược, mạch nhanh và yếu : mạch nhanh do huyết áp giảm, thông qua phả xạ Marây, đã kích thích trung khu tim đập nhanh, còn mạch yếu do giảm KLMLT, tim hầu như “bóp rỗng”. Mạch nhanh (trên 130-140 lần /phút), yếu, ngay cả khi huyết áp còn tương đối tốt, nói lên liên lượng xấu. Sốc càng nặng mạch càng yếu, càng nhanh. Mạch trung thành hơn huyết áp.
b)rối loạn hô hấp: trong giai đoạn cương, hô hấp nhanh và sâu có tác dụng bù đắp, do trung khu hô hấp hưng phấn . Tới giai đoạn nhược , hô hấp nông, nhanh hoặc chậm, loạn nhịp, có thể phát sinh hô hấp chu kì do trung khu hô hấp bị ức chế(ức chế từ trên lan xuống và do thiếu oxy, hậu quả của giảm KLMLT). Tiên lượng rất xấu nếu suy hô hấp phát sinh sớm
khi bị sốc chấn thương, hô hấp bị rối loạn sớm hơn và nghiêm trọng hơn so với sốc mất máu và cơ thể sinh bệnh cũng phức tạp hơn.
c) thay đổi của máu : trong sốc chấn thương, thường kèm theo mất máu, các tác giả thấy máu có khuynh hướng loãng do dịch gian bào vào máu bù vào lượng máu mất đi (thậm chí có trường hợp hồng cầu giảm tới 2-1,4 triệu/mm3 và huyết sắc tố chỉ còn 42-30%)
còn trong sốc bỏng, thường thấy máu cô(do thoát huyết tương ở vết bỏng), song thực tế lại là thiếu máu(do hồng cầu bị huỷ ồ ạt dưới tác dụng của nhiệt độ cao)
d) Rối loạn tiết niệu: trong sốc chấn thương, lượng nước tiểu giảm rõ rệt , thậm chí không có (suy thân cấp), chủ yếu do giảm KLMLT, ngoài ra còn do có tiểu động mạch dẫn tới cầu thận gây giảm lọc, đồng thời tăng tiết ADH và aldosteron gây tái hấp thu nước
lượng nước tiểu, giờ là một chỉ tiêu quan trọng để chẩn đoán, tiên lượng sốc đồng thời quyết định lượng dịch cân truyền
có trường hợp, do điều trị,huyết áp đã hồi phục, song người bệnh vẫn chết do suy thận cấp (tổn thương chủ yếu là viêm ống thận cấp)
2. bệnh sinh sốc chấn thươngCó nhiều thuyết nhằm giải thích cơ chế bệnh sinh sốc chấn thương. Song hiện nay, còn tồn tại hai thuyết:
thuyết mất máu và thoát huyết tương
Thuyết thần kinh phản xạ
a) thuyết mất máu và thoát huyết tương. Theo thuyết này, sốc phát sinh là do khối lượng máu lưu thông giảm, hậu quả của mất máu ở vết thương và thoát huyết tương do tăng tính thấm mao mạch. Trong thực tế, chấn thương nặng thường kèm theo chảy máu và nhiều tác giả đã ca tụng việc truyền máu sớm với khối lượng lớn trong điều trị sốc chấn thương.
Tuy nhiên, trên cơ sở đó coi sốc chấn thương và chảy máu cấp tính chỉ là một thì là một điều sai lầm. Trong chảy màu nặng, rối loạn tuần hoàn xảy ra trước do giảm khối lượng máu lưu thông, đồng thời các cơ chế thích ứng bù đắp còn phát huy tác dụng một thời gian dài. Còn trong sóc chấn thương, rối loạn thần kinh phát sinh trước , do đó đã hạn chế các cơ chế thích ứng bù đắp. Ngoài ra, sốc chấn thương có thể phát sinh mà không kèm theo mất máu hoặc chỉ mất máu ít. Còn thoát huyết tơng phát sinh muộn, khi đã có những rối loạn tuần hoàn nghiêm trọng. Trong sốc chấn thương, khối lượng máu lưu thông giảm chủ yếu do ứ máu bệnh lý (đặc biệt ở hệ thống gánh) phát sinh sớm trước khi có giảm huyết áp
Tuy nhiên, mất máu và thoát huyết tương nếu không gây sốc thì cũng làm cho sốc dễ phát sinh và sốc thêm nặng
b) thuyết thần kinh phản xạ. Theo thuyết này, rối loạn hoạt động thần kinh là yếu tố chủ yếu gây ra sốc chấn thương. Chấn thưong gây tổn tại chỗ, đồng thời còn kích thích mạnh các thụ thể tại chỗ, luồng xung động được dẫn truyền lên não, gây ra một trạng thái hưng phấn cao độ lan rộng ra khắp não, có tác dụng tăng cường các chức năng sinh lý nhằm bảo vệ cơ thể( sốc cương). Tới cuối giai đoạn bù đắp, do hưng phấn cao độ, năng lượng dự trữ giảm rõ rệt, bấy giờ phát sinh trạng thái ức chế có tác dụng bảo vệ, tránh kiệt quệ cho tế bào thần kinh.Nếu chấn thương rất nặng, ức chế có thể lan tới cảc trung khu thực vật quan trọng(trung khu hô hấp, vận mạch…)gây suy mạch cấp và suy hô hấp cấp, làm cho tình trạng thiếu oxy thêm nghiêm trọng của cơ thể( sốc nhược), có thể dẫn tới sốc không hồi phục
c) thiếu oxy trong sốc. Trong suốt quá trình sốc, nổi bật lên hàng đàu là trạng thái thiếu oxy, thiếu oxy là hậu quả của rối loạn tuần hoàn(giảm khối lượng máu lưu thông)và rối loạn hô hấp (suy hô hấp)
não_ một tổ chức có trình độ biệt hoá cao nhất, mẫn cảm nhất đối với thiếu oxy. Đáng chú ý là trong sốc , fo sự phân phối lại máu, não và tim được cung cấp nhiều máu hơn các tạng khác. Khi sốc diễn biến mạnh, trạng thái thiếu oxy có tính chất toàn thân, làm cho sốc thêm nghiêm trọng. Rối loạn thần kinh gây ra, dẫn tới trạng thái nhiễm toan chuyển hoá ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động của hệ thần kinh cũng như các nội tạng khác
rối loạn thần kinh, rối loạn nội tạng, rối loạn chuyển hoá, thiếu oxy… liên quan mật thiết với nhau, tạo ra một vòng xoáy óc bệnh lý dẫn tới sốc không hồi phục nếu không kịp thời điều trị
B - TRUỴ MẠCH
Truỵ mạch là tình trạng suy mạch cấp do các trung tâm vận mạch bị ức chế sâu sắc dẫn tới giãn mạch toàn bộ, đặc biệt là tĩnh mạch. Khối lượng máu lưu thông giảm, máu trở về tim ít, tim hầu như “bóp rỗng”, máu không lên được não,khiến cho các trung tâm thần kinh bị ức chế sâu sắc, do đó rối loạn vận mạch thêm nghiêm trọng. Ngoài ra thiếu oxy tổ chức gây ra rối loạn chuyển hoá gluxit, lipit, protein phát sinh nhiễm toan. Gan thiếu máu tiết ra chất dãn mạch ( VDM, tên tắt của vaso dilatatr material ) càch làm cho mạch dãn thiêm. Ứ máu ở hệ thống gánh đã hạn chế chứ năng háng rào và giải độc của ruột- gan, làm cho nhiễm độc thiêm nặng.
Trụy mạch có thể do nhiều nguyên nhân gây ra:
a) Nhiễm khuẩn: tình trạng này xảy ra vào lúc nặng nhất của bệnh, do độc tố của vi khuẩn cũng như sản phẩm chuyển hóa tích lại đã gây nhiễm độc thành mạch, trung tâm vận độc và cả cơ tim. Trong thực nghiệm người ta gây trụy mạch bằng cách tiêm một liều độc vi khuẩn kiết lỵ hoặc độc tố vi khuận bạch hẩu, thương hàn cho thỏ, chó. Sau khi tiêm một thời gian ngắn, huyết động mạch và tĩnh mạch tụt nhanh, con vật giãy giụa, có thể chết ngay. Mổ xác, thấy ứ máu nội tạng, đặc biệt là ở bụng
b) Thay đổi tư thế: Thường gặp ở những bệnh nhân nặng, phải nằm lâu, do khi đứng lên, máu theo trọng lượng dồn xuống phần dưới cơ thể. Bình thường các thụ thể ở xoang động mạch cảnh và quai động mạch chủ, thông qua trung tâm vận mạch, gây co mạch, dồn máu lên não, song ở d8ay các trung tâm hoạn động yếu thích nghi không khịp, máu không lên não, gây trụy mạch.
c) Chọc tháo nước ở ổ bụng: Nếu tháo hết dịch, có thể gây trụy mạch vì mạch nội tạng được giải phóng đột ngột đã dãn quá mức, gây giảm khối lượng máu lưu thông, mà hậu quả là thiếu máu não. Do đó, không nên chọc tháo hết và sau khi chọc, nên băng chặt bụng người bệnh.
d) thiếu oxy: Ở một số người, khi lên núi cao hay khi thở không khí thiếu oxy, có thể phát sinh trụy mạch: giảm huyết áp, mạch nhanh yếu, người bệnh bất tỉnh…
C- NGẤT
Ngất là một trạng thái bệnh lý, trong đó ngưòi bệnh mất tri giác bất thình lình trong một thời gian ngắn
Người bị ngất thường có cảm giác choáng váng, xây sầm mặt mày, chân tay rã rời, toát mồ hôi, đau ở ngực hay ở bụng trên, mệt mỏi buồn nôn rồi ngã vật xuống bất động, mặt tái nhợt, đồng tử dãn, hô hấp chậm. Thường người bệnh phục hồi tri giác khi được nằm yên tĩnh sau một thời gian ngắn.
Cơ chế của ngất là do vì một nguyên nhân nào đó, máu không lên não, làm cho não lâm vào tình trạng thiếu oxy đột ngột.
1. Nguyên nhân gây ngất: a) Nguyên nhân do tim :
-Hưng phấn dây X. Bấy giờ tim đập rất chậm, không đảm bảo lưu lượng máu, nên gây thiếu máu não. Tình trạng này thường gặp khi tính cảm thụ của xoang động mạch cảnh quá cao hoặc trong phản xạ nhãn cầu- phế vị. Ở những người có tình trạng này, chỉ cần ấn mạnh vào cổ hay mắt cũng có thể gây ngất.
- Rối loạn dẫn truyền nhĩ thất còn gọi là hội chứng StecAdam ( Stocckes Adam ) trong trường hợp này, tim đập rất chậm(30- 40 đập/ phút) làm cho não bị thiếu máu, gây ra ngất.
- Loạn nhịp tim: trong cơn tim đập nhanh, rung tim, tim không đủ khả năng co bóp đẩy máu lên não, gây ra ngất.
Ngoài ra, trong hở van động mạch chủ, khi làm việc nặng, có thể phát sinh ngất do máu dồn tới cơ lên não it.
b) Nguyên nhân ngoài tim:
- Các phản xạ đau đớn, sợ hãi, phản xạ niêm mạc mũi… gây rối loạn trung tâm vận mạch và trung tâm điều hòa hoạt động tim có thể gây ngất.
- Ngất khi thay đổi tư thế( từ nằm sang đứng) có thể gặp ở một số người không có bệnh thực thể, do trương lực mạch lớn và phản ứng thần kinh chậm.
- Khi máu lưu thông từ tim lên não bị trở ngại( bệnh huyết áp cao, phồng động mạch não… ) có thể phát sinh ngất.
Đặc biệt một số loại bệnh nhân huỵết áp giảm không rõ nguyên nhân: khi đứng dậy, huyết áo tối đa có thể tụt xuống 40 mmHg và tối thiểu OmmHg, bệnh nhân chóng mặt và ngất.
2. Phân biệt ngất và hôn mê, sốc và trụy mạch:
- Ngất lhác với hôn mê ở chỗ là hôn mê cũng mất tri giác, song từ từ, kéo dài và không tự hồi phục được
- Ngất khác với sốc là những biến đổi về hệ tim mạch trong ngất xảy ra nhanh chóng, bất thình lỉnh và tự động hồi phục. Sốc thần kinh chẳng qua là ngất do tác nhân tâm lỳ gây ra.
- Trong nhiều trường hợp, rất khó phân biệt ngất với trụy mạch, vì cơ thể bệnh sinh của hai trạng thái đó có điểm giống nhau là đều thiếu máu ở não. Trụy mạch thường xảy ra ở những người có vẻ bình thường hay thật sự bình thường.
- Phân biệt sốc và trụy mạch : Trên thực tế lâm sàng, bệnh cảnh cũng như cơ chế bệnh sinh trụy tim mạch và sốc thường hay nhầm lẫn với nhau. Có lẽ chỉ tiêu phân biệt sốc và trụy mạch là quá trình diễn biến: trụy mạch xảy ra rất nhanh còn sốc phải có thòi gian biến chuyển. Trong sốc cũng có trụy mạch cấp ( tức là trụy mạch ) song chỉ xảy ra ở giai đoạn muộn; trái với trụy mạch xảy ra đột ngột, sốc bao giờ cũng diễn biến qua hai giai đoạn bù đắp và mất bù
D- HUYẾT ÁP CAO
Huyết áp cao là một quá trình bệnh lý phổ biến trên thế giới : theo thống kê gần đây thì có tới % dân số bị huyết áp cao
Ở Việt Nam khi huyết áp tối đa trên 140mmHg và huyết áp tối thiểu trên 90mmHg được coi là cao. Ở Việt Nam tỷ lệ huyết áp cao ở những bệnh nhân tim mạch tại bệnh viện như sau:
- Miền Bắc Việt Nam : 12,3% (1962)
- Miển Nam Việt Nam : 15,4% (1967)
Dựa theo con số huyết áp người ta phân biệt:
Tăng huyết áp cả tối đa và tối thiểu: thường gặp nhất có giá trị nhất về bệnh lý.
Tăng huyết áp tối đa:có nhiều ý kiến chưa thống nhất.
Tăng huyết áp tối thiểu: hai khả năng, hoặc số tối đa bị giảm do suy tim trái, hoặc số tối thiểu tăng do suy tim phải.
Đáng chú ý là: ở người bình thường con số tối đa có thể tăng tới 150- 170mmHg từ 50 tuổi trở lên.
Tăng huyết áp là một triệu chứng của nhều bệnh. Nhưng có thể là một bệnh, bệnh tăng huyết áp, nếu không tìm thấy nguyên nhân. Theo một vài liệu pháp:
- 40% tăng huết áp triệu chứng (có nguyên nhân)
- 60% tăng huyết áp bệnh (không thấy nguyên nhân)
Tìm ra nguyên nhân tăng huyết áp là một vấn đề rất khó khăn. Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp đã được bàn cãi trên 100 năm nay mà vẫn chưa rõ ràng.
1. Tăng huyết áp triệu chứng: Những nguyên nhân thường gặp là; bệnh thận, rối loạn chuyển hóa, rối loạn nội tiết.
a) huyết áp cao do bệnh thận: Đã từ lâu, trên lâm sàng người ta nhận thấy một số bệnh thận ( viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mãn, viêm kẽ, hẹp động mạch thân… ) hay có huyết áp cao kèm theo.
Trên thực nghiệm, người ta đã gây được huyết áp cao bằng cách làm hẹp động mạch thận cả hai bên.
Hiện nay, người ta đã chứng minh được cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp do thận: khi thận thiếu máu, renin được tiết ra nhiều sẽ làm tăng angiotensin II trong máu và gây huyết áp cao.
Gần đây người ta nhận thấy có sự liện quan giữa tiết renin và aldosteron và có ý kiến định giải thích là renin gây tăng tiết aldosteron, do đó tăng tái hấp thu Na+ làm thay đổi tính chất của màng tế bào, gây tăng tính kích thích của cơ trơn và làm tăng huyết áp.
b) Huyết áp cao do rối loạn chuyển hóa: trong lâm sàng, đã từ lâu người ta nhận thấy huyết áp cao hay gặp ở những người cao tuổi dễ bị xơ vữa động mạch (VXDM). Trong bệnh này, cholesterol ứ đọng trong lớp dưới nội mô động mạch chủ, các động mạch lớn, động mạch vành, động mạch não…
Ngay từ N.N.Anhicốp đã nêu vai trò chủ yếu của cholesterol trong bệnh sinh xơ vữa động mạch: trong thực nghiệm, cho động vật (chó, thỏ, gà…) ăn nhiều cholesterol thấy có thể gây được xơ vữa động mạch. Người ta nhận thấy cholesterol máu tăng dần với tuổi, song song với tỷ lệ mắc xơ vữa động mạch. Trong các động vật có vú thấy tăng huyết áp hay gặp ở người hơn là ở các giống khác, có lẽ vì bình thường ở người đậm độ cholesterol máu (70% trong bêta lipoprotein) cao hơn các loài khác ( chó 17%, thỏ 47%... ) nên dễ lắng đọng ở thành mạch và gây xơ vữa động mạch.
Tuy nhiên, cholesterol máu tăng không phải là nguyên nhân tất yếu và duy nhất gây xơ vữa động mạch: có nhiều trường hợp cholesterol máu tăng song không bị xơ vữa động mạch, trái lại cholesterol máu bình thường song vẫn bị xơ vữa động mạch. Có rất nhiều yếu tố gây ra xơ vữa động mạch, chủ yếu là :
- Tổn thương thành mạch (trườc khi có lắng đọng lipit)
- Ăn quá nhiều lipit ( đặc biệt là cholesterol), lại ít vận động.
Rối loạn chuyển hóa lipit do nhiều nguyên nhân gây ra, đặc biệt là trạng thái căng thẳng tâm thần kinh kéo dài (mổ xác 300 lính mỹ chết trong cuộc chiến tranh xâm lược Triều Tiên, thấy có tới 70% bị xơ vữa động mạch sau một năm chiến đấu căng thẳng)
c) Huyết áp cao do rối loạn nội tiết
Đã từ lâu, người ta nhìn thấy huyết áp tăng trong nhiều biệnh nội tiết, nhất là bệnh tuyến thượng thận . U tủy thượng thận ( có tăng tiết adrenalin ) gây tăng huyết áp từng cơn hay cồ định, trong hội chứng cơ sinh ( Cushing), một triệu chứng quan trọng là tăng huyết áp, song cơ chế còn chưa rõ, có lẽ vì có tăng ACTH nên tăng tiết desoxycoctioseron. Trong hội chứng Côn (Conn) tăng tiết aldosteron tiên phát do u vỏ thượng thận- huyết áp tăng có thể do nhiều cơ chế.
Ngoài ra, còn thấy aldosteron cũng như desoxycocticosteron có tác dụng trực tiếp lên thành mạch gây tăng huyết áp, có lẽ chúng đã làm tăng tính cảm thụ của mạch ngoại vi đối với những chất gây co mạch như Adrenanin.
2. Bệnh tăng huyết áp: Trên đây đề cập tới tăng huyết áp là một triệu chứng của nhiều bệnh, do nhiều nguyên nhân gây ra. Song có thể là một bệnh- bệnh huyết áp cao nguyên phát nếu không tìm thấy nguyên nhân. Có thể do rối loạn thần kinh trung ương làm mất sự điều chỉnh vận mạch, hệ thống tiểu động mạch co lại, gây tăng huyết áp.
Trên lâm sàng, bệnh huyết áp cao hay gặp ở những người phải lo nghĩ nhiều, những người làm việc trí óc, hoặc làm việc ở những nơi nhiều tiếng động. Những nguyên nhân gây rối loạn hoạt động vỏ não như sợ hãi, lo buồn, chấn thương tâm lý nói chung là những cảm xúc tâm lý có thể gây huyết áp cao. Ở Việt Nam tỷ lệ bị huyết áp cao trong cán bộ là 3,4%, trong công nhân là 2,6%, còn ở nông thôn và miền núi chỉ chiếm 1- 1,7%. Trong chiến tranh số người bị huyết áp cao tăng rõ rệt.
Đã từ lây, người ta thấy rõ vai trò rất quan trọng của thần kinh trong điều hào huyết áp. Trường phái Xô- Việt cho rằng bệnh huyềt áp cao là do rối loạn hoạt động thần kinh cao cấp, tức là vỏ não, thông qua tầng dưới vỏ và hệ nội tiết, là cơ quan kiểm soát, điều hóa mọi quá trình xẩy ra trong cơ thể, đồng thời đảm bảo sự thống nhất giữa cơ thể và ngoại mô. Bình thường vỏ não có tác dụng kiềm chế tầng dưói vỏ. Dưới tác dụng của những kích thích từ trong hay từ bên ngoài tới mà cường độ vượt quá giới hạn chịu đựng của tế bào vỏ não, bấy giờ vỏ não sẽ lâm vào trạng thái ức chế, không còn tác dụng ức chế tầng dưới vỏ và ở đó sẽ phát sinh hưng phấn hỗn loạn, gây ra những hỗn loạn hoạt động của các nội tạng, đặc biệt là gây tim đập nhanh và co mạch, dẫn tới tăng huyết áp.
Huyết áp cao do rối loạn thần kinh một khi đã hình thành có thể ảnh hưởng tới thận, gây thiếu máu, tăng tiết renin, do đó huyết áp càng tăng, tạo ra vòng xoáy ốc bệnh lý ( hình 3)
3. Những hậu quả của tăng huyết áp:
Huyết áp cao là do co mạch, cho nên các triệu trứng là do các cơ quan bị thiếu máu gây ra. Thường thấy: nhức đầu, chóng mặt, chóng mệt, trí nhớ giảm, không tập trung tư tưởng, tính tình thay đổi, ngủ ít, mắt kém- đôi khi có cảm giác tê dại: kiến bò ở chân tay…
Huyết áp cao có thể gây ra một số triệu chứnghuyết áp cao tăng sức cản ngoại vi, buộc tim trái phải tăng co bóp, dần dần phì đại, rồi suy tim trái. Các mạch máu bị xơ nên dễ vỡ, nguy hiểm nhất là nhồi máu cơ tim và chẩy máu não, những biến chứng này hay gặp ở những người cao tuổi có huyết áp cao
a) Vận chuyển oxygen và chất dinh dưỡng đến các cơ quan trong cơ thể
b) Mang các chất thải của quá trình trao đổi chất đến các cơ quan bài tiết
c) Có vai trò trong hệ miễn dịch chống lại sự nhiễm khuẩn
d) Vận chuyển hormone…
Tác động lên hệ tuần hoàn:
Tìm hiểu về các triệu chứng bệnh lý liên quan đến tất cả đốt sống trên cơ thể con người:
-Đau tê buốt các vùng: C1, C2, C3,C4,C5, C6, C7:
+ Gây đau đầu, mất ngủ, thiểu năng tuần hoàn não.
+ Đau mỏi vùng cổ vai gáy
+ Suy giảm trí nhớ, thị giác, thính giác
+ Rối loạn huyết áp
-Đau nhứt thốn các vùng: T1, T2, T3, T4:
+ Bệnh tim mạch, đau ngực
+Hô hấp, rối loạn tiêu hóa
+Đau vai gáy, đau tay, cẳng tay
+ Ho mãn tính, đau tứ ngực
-Đau vùng T5, T6, T7, T8:
+ Đau vùng dạ dày, rối loạn tiêu hóa.
+ Đau thần kinh liên sườn, hạ sườn
+ Đau thượng vị, đau vùng gan
-Đau nhứt vùng T9, T10, T11, T12:
+ Đau lưng, đau thận vùng lưng
+ Đau vùng thượng vị
+ Rối loạn tiểu tiện bài tiết
-Đau nhứt tức thốn vùng L1, L2, L3, L4, L5, S1-S5:
+ Giảm chức năng sinh lý
+ Rối loạn kinh nguyệt
+ Rối loạn đai, tiểu tiện, tiêu hóa
+ Nguy cơ trĩ, đau mỏi thắt lưng
+ Đau hông, thần kinh tọa
+ Đau háng, đùi, cẵng chân
HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG
Học thuyết âm dương được coi là môn học cơ sở của y học cổ truyền.
* Định nghĩaHọc thuyết âm dương là nền tảng tư duy nhận thấy sự vật luôn luôn có mâu thuẫn, nhưng thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hóa để phát sinh, phát triển và tiêu vong gọi là học thuyết âm dương.
Từ lý luận đến thực hành, trong chẩn đoán bệnh cũng như chữa bệnh, bào chế thuốc và dùng thuốc tất cả đều dựa vào học thuyết âm dương.
Từ lý luận đến thực hành, trong chẩn đoán bệnh cũng như chữa bệnh, bào chế thuốc và dùng thuốc tất cả đều dựa vào học thuyết âm dương.
1. Nội dung học thuyết âm dươngÂm và dương là tên gọi đặt cho 2 yếu tố cơ bản của một vật, 2 cực của một quá trình vận động và 2 nhóm hiện tượng có mối liên quan biện chứng với nhau.
• Tính cơ bản của âm: Ở phía dưới, ở bên trong, yên tĩnh có xu hướng tích tụ.
• Tính cơ bản của dương: Ở phía trên, ở bên ngoài, hoạt động có xu hướng phân tán.
Dựa vào những thuộc tính cơ bản, người ta phân định tích chất âm dương cho các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội như sau:
• Tính cơ bản của âm: Ở phía dưới, ở bên trong, yên tĩnh có xu hướng tích tụ.
• Tính cơ bản của dương: Ở phía trên, ở bên ngoài, hoạt động có xu hướng phân tán.
Dựa vào những thuộc tính cơ bản, người ta phân định tích chất âm dương cho các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội như sau:
2. Các quy luật cơ bản của học thuyết âm dương
2.1. Âm dương đối lập:Âm dương là 2 từ dùng để chỉ 2 mặt đối lập mà chế ước lẫn nhau của mỗi sự vật.
Đối lập là sự mâu thuẫn, chế ước và đấu tranh giữa 2 mặt âm dương
Vd: Ngày Đêm
Nước Lửa
Ức chế Hưng phấn
Khỏe Yếu2.2. Âm dương hỗ cănÂm dương cùng 1 cội nguồn, nương tựa giúp đỡ lẫn nhau như vật chất và năng lượng. Cả 2 mặt đều là quá trình phát triển tích cực của sự vật không thể đơn độc phát sinh - phát triển được.
Vd: Cơ năng hoạt động (dương) phải có sự cung cấp của chất dinh dưỡng (âm) chất dinh dưỡng (âm) phải nhờ sự hoạt động của cơ năng (dương) mới trở thành chất hữu dụng để nuôi tạng phủ và cứ như thế không ngừng.
Vd: Có sinh thì có tử hoặc có trong thì có ngoài.
2.3. Âm dương tiêu - trưởng
Tiêu là mất đi, Trưởng là sự phát triển: Nói lên sự vận động không ngừng, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa 2 mặt âm dương. Như khí hậu 4 mùa trong năm luôn thay đổi từ lạnh sang nóng, từ nóng sang lạnh. Từ lạnh sang nóng là quá trình "âm tiêu dương trưởng" và từ nóng sang lạnh là quá trình "dương tiêu âm trưởng" do đó có khí hậu mát, lạnh, ấm, và nóng biểu thị khí hậu của 4 mùa: xuân - hạ - thu - đông.2.4. Âm dương bình hànhHai mặt âm dương tuy đối lập, vận động không ngừng, nhưng luôn luôn lập lại được thế cân bằng, thế bình quân giữa 2 mặt.
Bình hành là cân bằng cùng tồn tại, sự cân bằng âm dương là sự cân bằng động và cân bằng tĩnh. Nếu sự cân bằng âm dương bị phá vỡ thì sự vật có nguy cơ bị tiêu vong.
* Tóm lại: 4 quy luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất, vận động và nương tựa lẫn nhau của vật chất .
2.1. Âm dương đối lập:Âm dương là 2 từ dùng để chỉ 2 mặt đối lập mà chế ước lẫn nhau của mỗi sự vật.
Đối lập là sự mâu thuẫn, chế ước và đấu tranh giữa 2 mặt âm dương
Vd: Ngày Đêm
Nước Lửa
Ức chế Hưng phấn
Khỏe Yếu2.2. Âm dương hỗ cănÂm dương cùng 1 cội nguồn, nương tựa giúp đỡ lẫn nhau như vật chất và năng lượng. Cả 2 mặt đều là quá trình phát triển tích cực của sự vật không thể đơn độc phát sinh - phát triển được.
Vd: Cơ năng hoạt động (dương) phải có sự cung cấp của chất dinh dưỡng (âm) chất dinh dưỡng (âm) phải nhờ sự hoạt động của cơ năng (dương) mới trở thành chất hữu dụng để nuôi tạng phủ và cứ như thế không ngừng.
Vd: Có sinh thì có tử hoặc có trong thì có ngoài.
2.3. Âm dương tiêu - trưởng
Tiêu là mất đi, Trưởng là sự phát triển: Nói lên sự vận động không ngừng, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa 2 mặt âm dương. Như khí hậu 4 mùa trong năm luôn thay đổi từ lạnh sang nóng, từ nóng sang lạnh. Từ lạnh sang nóng là quá trình "âm tiêu dương trưởng" và từ nóng sang lạnh là quá trình "dương tiêu âm trưởng" do đó có khí hậu mát, lạnh, ấm, và nóng biểu thị khí hậu của 4 mùa: xuân - hạ - thu - đông.2.4. Âm dương bình hànhHai mặt âm dương tuy đối lập, vận động không ngừng, nhưng luôn luôn lập lại được thế cân bằng, thế bình quân giữa 2 mặt.
Bình hành là cân bằng cùng tồn tại, sự cân bằng âm dương là sự cân bằng động và cân bằng tĩnh. Nếu sự cân bằng âm dương bị phá vỡ thì sự vật có nguy cơ bị tiêu vong.
* Tóm lại: 4 quy luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất, vận động và nương tựa lẫn nhau của vật chất .
3. Biểu tượng của học thuyết âm dương
- Một hình tròn to: Vật thể thống nhất.
- Bên trong có 2 phần đen và trắng ( âm và dương đối lập).
- Trong phần trắng có 1 vòng đen, trong phần đen có 1 vòng trắng (trong dương có âm, trong âm có dương).
- Diện tích 2 phần đen trắng bằng nhau được phân đôi bằng một đường sin (âm dương cân bằng trong sự tiêu tưởng).
- Một hình tròn to: Vật thể thống nhất.
- Bên trong có 2 phần đen và trắng ( âm và dương đối lập).
- Trong phần trắng có 1 vòng đen, trong phần đen có 1 vòng trắng (trong dương có âm, trong âm có dương).
- Diện tích 2 phần đen trắng bằng nhau được phân đôi bằng một đường sin (âm dương cân bằng trong sự tiêu tưởng).
4. Ứng dụng học thuyết âm dương vào y học:
* Âm dương trong tự nhiên
Âm: Đất, Mặt trăng, Nước, Dưới, Trong, Lạnh, Số âm
Dương: Trời, Mặt trời, Lửa, Trên, Ngoài, Nóng, Số dương
* Âm dương trong cấu tạo cơ thể
Âm: Tạng, Kinh âm, Huyết, Bụng, Hư, Ức chế
Dương: Phủ, Kinh dương, Khí, Lưng, Thực, Hưng phấn
Trong quá trình phát triển của bệnh, tích chất của bệnh còn chuyển hóa lẫn nhau giữa 2 mặt âm dương. Như bệnh ở phần dương ảnh hưởng tới phần âm, như sốt cao kéo dài sẽ gây mất nước, bệnh ở phần âm ảnh hưởng tới phần dương như ỉa lỏng, nôn mửa kéo dài làm mất nước điện giải, nhiễm độc thần kinh gây sốt, co giật...
4.1. Chữa bệnh và phương pháp chữa bệnh
Chữa bệnh là sự điều hòa mất thăng bằng về âm dương của cơ thể tùy theo tình trạng hư thực, hàn nhiệt của bệnh bằng các phương pháp khác nhau.4.2. Chữa bệnh là lập lại thế cân bằng sinh lýĐiều hòa lại sự mất thăng bằng âm dương của cơ thể tùy theo tình trạng hư thực, hàn nhiệt của bệnh.
- Nếu bệnh thì phải dùng thuốc đối lập để xóa bỏ phần thừa trong cơ thể.
+ Bệnh hàn dùng thuốc ấm nóng.
+ Bệnh nhiệt dùng thuốc mát lạnh.
- Nếu do 1 bên quá yếu thì dùng phép bổ tức là dùng thuốc cùng tính chất để chữa vào chỗ thiếu hụt.
Vd: Âm hư thì bổ âm, huyết hư thì bổ huyết, thiếu lực thì dùng thuốc tăng lực, cơ thể bị lạnh thì dùng thuốc ấm nóng để hồi phục thân nhiệt.
- Khi sự cân bằng đã được hồi phục thì phải ngưng thuốc, lạm dụng thuốc sẽ có hại, sẽ gây mất cân bằng mới.
* Âm dương trong tự nhiên
Âm: Đất, Mặt trăng, Nước, Dưới, Trong, Lạnh, Số âm
Dương: Trời, Mặt trời, Lửa, Trên, Ngoài, Nóng, Số dương
* Âm dương trong cấu tạo cơ thể
Âm: Tạng, Kinh âm, Huyết, Bụng, Hư, Ức chế
Dương: Phủ, Kinh dương, Khí, Lưng, Thực, Hưng phấn
Trong quá trình phát triển của bệnh, tích chất của bệnh còn chuyển hóa lẫn nhau giữa 2 mặt âm dương. Như bệnh ở phần dương ảnh hưởng tới phần âm, như sốt cao kéo dài sẽ gây mất nước, bệnh ở phần âm ảnh hưởng tới phần dương như ỉa lỏng, nôn mửa kéo dài làm mất nước điện giải, nhiễm độc thần kinh gây sốt, co giật...
4.1. Chữa bệnh và phương pháp chữa bệnh
Chữa bệnh là sự điều hòa mất thăng bằng về âm dương của cơ thể tùy theo tình trạng hư thực, hàn nhiệt của bệnh bằng các phương pháp khác nhau.4.2. Chữa bệnh là lập lại thế cân bằng sinh lýĐiều hòa lại sự mất thăng bằng âm dương của cơ thể tùy theo tình trạng hư thực, hàn nhiệt của bệnh.
- Nếu bệnh thì phải dùng thuốc đối lập để xóa bỏ phần thừa trong cơ thể.
+ Bệnh hàn dùng thuốc ấm nóng.
+ Bệnh nhiệt dùng thuốc mát lạnh.
- Nếu do 1 bên quá yếu thì dùng phép bổ tức là dùng thuốc cùng tính chất để chữa vào chỗ thiếu hụt.
Vd: Âm hư thì bổ âm, huyết hư thì bổ huyết, thiếu lực thì dùng thuốc tăng lực, cơ thể bị lạnh thì dùng thuốc ấm nóng để hồi phục thân nhiệt.
- Khi sự cân bằng đã được hồi phục thì phải ngưng thuốc, lạm dụng thuốc sẽ có hại, sẽ gây mất cân bằng mới.
5. Bào chế thuốc
• Âm dược: Các thuốc có tính mát lạnh, có vị đắng, chua, mặn hướng đi xuống. Như nhóm thuốc thanh nhiệt, sổ hạ lợi tiểu.
• Dương dược: Các thuốc có tính ấm nóng, có vị cay ngọt, hướng thuốc đi lên như những thuốc bổ, thuốc hành khí, hoạt huyết, giải biểu.
• Âm dược: Các thuốc có tính mát lạnh, có vị đắng, chua, mặn hướng đi xuống. Như nhóm thuốc thanh nhiệt, sổ hạ lợi tiểu.
• Dương dược: Các thuốc có tính ấm nóng, có vị cay ngọt, hướng thuốc đi lên như những thuốc bổ, thuốc hành khí, hoạt huyết, giải biểu.
...6. Phòng bệnhY học cổ truyền đề cao việc rèn luyện tính thích nghi với môi sinh để luôn giữ được cân bằng âm dương trong cơ thể, dự phòng bệnh tật và tăng cường sức khỏe.
Các phương pháp tập luyện đều phải coi trọng cả phần tâm (dương) và phần thể (âm). Khi tiến hành tập cần kết hợp tập động (dương) và tập tĩnh (âm) rèn luyện cơ cân khớp (biểu) kết hợp với rèn luyện các nội tạng (lý).
Các phương pháp tập luyện đều phải coi trọng cả phần tâm (dương) và phần thể (âm). Khi tiến hành tập cần kết hợp tập động (dương) và tập tĩnh (âm) rèn luyện cơ cân khớp (biểu) kết hợp với rèn luyện các nội tạng (lý).
HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
1. Học thuyết Ngũ hành:
Học thuyết Ngũ hành là triết học cổ đại của phương Đông giải thích mối quan hệ hữu cơ giữa các sự vật trong quá trình vận động và biến hoá. Có thể coi học thuyết Ngũ hành là một hệ tự điều chỉnh có 5 thành phần.
Y học cổ truyền phương Đông lấy học thuyết Ngũ hành làm cơ sở lý luận và hành động của mình.
2. Ngũ hành:Ngũ hành là 5 nhóm vật chất, là 5 dạng vận động phổ biến của vật chất, là 5 thành tố có quan hệ tương tác với nhau. Mỗi hành có những thuộc tính riêng và được đặt tên của một loại vật chất tiêu biểu đó là:
Mộc - Hoả - Thổ - Kim - Thuỷ
3. Thuộc tính của Ngũ hành:
Mỗi một hành (nhóm) có những thuộc tính chung:
• Hành Mộc: Phát động, phát sinh, vươn toả
• Hành Hoả: Phát nhiệt, tiến triển, bốc lên
• Hành Thổ: Xuất tiết, ôn hoà, nhu dưỡng
• Hành Kim: Thu liễm, co cứng, lắng đọng
• Hành Thuỷ: Tàng giữ, mềm mại, đi xuống.
4. Quy loại theo Ngũ hành:Các vật chất, các hiện tượng, các dạng vận động được xếp vào hành nào đó, sẽ mang thuộc tính chung của hành đó và cũng có những mối liên quan đặc biệt.
Thí dụ: Thuộc tính chung của Hành Hoả là nóng, bốc lên, phát triển mạnh mẽ nên mùa hạ, phương Nam, màu đỏ, tạng Tâm được xếp vào hành Hoả.
Bảng quy loại Ngũ hành
II. QUAN HỆ NGŨ HÀNH:
Vật chất luôn vận động, trong quá trình vận động các vật tác động lẫn nhau. Mỗi vật thể vận động đều chịu tác động của hai nguồn lực đối lập: thúc đẩy và kìm hãm.
1. Quan hệ Tương sinh, Tương khắc:
Trong tình trạng hoạt động bình thường, Ngũ hành vừa tương sinh lại vừa tương khắc để giữ cân bằng, hài hoà giữa các sự vật liên quan. Nếu chỉ có sinh mà không có khắc sẽ dẫn đến tình trạng phát triển quá mức, phá vỡ sự cân bằng tự nhiên; nếu lại chỉ khắc mà không sinh sẽ dẫn đến suy thoái tàn lụi cũng phá vỡ sự cân bằng tự nhiên.
1.1. Ngũ hành tương sinh:
Tương sinh là giúp đỡ thúc đẩy, nuôi dưỡng. Hành sinh ra Hành khác goi là Hành Mẹ; Hành được sinh ra gọi là Hành con. Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc là mẹ của Hoả và là con của Thuỷ.
1.2. Ngũ hành tương khắc:
Tương khắc là ngăn cản, kiềm chế, giám sát. Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc.
2. Quan hệ Tương thừa, Tương vũ:
Khi quan hệ tương sinh, tương khắc bị rối loạn sẽ chuyển thành quan hệ tương thừa, tương vũ.
2.1. Ngũ hành tương thừa:
Tương thừa là khắc quá mạnh làm ngưng trệ hoạt động của Hành bị khắc.
Ví dụ: Trong điều kiện sinih lý bình thường, Can Mộc khắc Tỳ Thổ. Khi Can Mộc căng thẳng quá mức sẽ "thừa" Tỳ, làm cho Tỳ Thổ sinh bệnh. Trường hợp này biểu hiện ở cơ chế bệnh sinh của bệnh loét dạ dày do yếu tố thần kinh căng thẳng, y học cổ truyền gọi là chứng Can thừa Tỳ hoặc Can khí phạm Vị.
2.2. Ngũ hành tương vũ:
Tương vũ là phản đối, chống lại. Trường hợp hành khắc quá yếu, không kiềm chế được hành bị khắc để hành này phản vũ lại, gây bệnh cho hành khắc.
Ví dụ: Bình thường Tỳ Thổ khắc Thận Thuỷ. Trường hợp Tỳ Thổ bị suy yếu, Thận Thuỷ sẽ phản vũ lại. Trường hợp này gặp trong phù do suy dinh dưỡng (do thiếu ăn và bệnh đường tiêu hoá mạn tính không hấp thu được dinh dưỡng).
Vật chất luôn vận động, trong quá trình vận động các vật tác động lẫn nhau. Mỗi vật thể vận động đều chịu tác động của hai nguồn lực đối lập: thúc đẩy và kìm hãm.
1. Quan hệ Tương sinh, Tương khắc:
Trong tình trạng hoạt động bình thường, Ngũ hành vừa tương sinh lại vừa tương khắc để giữ cân bằng, hài hoà giữa các sự vật liên quan. Nếu chỉ có sinh mà không có khắc sẽ dẫn đến tình trạng phát triển quá mức, phá vỡ sự cân bằng tự nhiên; nếu lại chỉ khắc mà không sinh sẽ dẫn đến suy thoái tàn lụi cũng phá vỡ sự cân bằng tự nhiên.
1.1. Ngũ hành tương sinh:
Tương sinh là giúp đỡ thúc đẩy, nuôi dưỡng. Hành sinh ra Hành khác goi là Hành Mẹ; Hành được sinh ra gọi là Hành con. Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc là mẹ của Hoả và là con của Thuỷ.
1.2. Ngũ hành tương khắc:
Tương khắc là ngăn cản, kiềm chế, giám sát. Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc.
2. Quan hệ Tương thừa, Tương vũ:
Khi quan hệ tương sinh, tương khắc bị rối loạn sẽ chuyển thành quan hệ tương thừa, tương vũ.
2.1. Ngũ hành tương thừa:
Tương thừa là khắc quá mạnh làm ngưng trệ hoạt động của Hành bị khắc.
Ví dụ: Trong điều kiện sinih lý bình thường, Can Mộc khắc Tỳ Thổ. Khi Can Mộc căng thẳng quá mức sẽ "thừa" Tỳ, làm cho Tỳ Thổ sinh bệnh. Trường hợp này biểu hiện ở cơ chế bệnh sinh của bệnh loét dạ dày do yếu tố thần kinh căng thẳng, y học cổ truyền gọi là chứng Can thừa Tỳ hoặc Can khí phạm Vị.
2.2. Ngũ hành tương vũ:
Tương vũ là phản đối, chống lại. Trường hợp hành khắc quá yếu, không kiềm chế được hành bị khắc để hành này phản vũ lại, gây bệnh cho hành khắc.
Ví dụ: Bình thường Tỳ Thổ khắc Thận Thuỷ. Trường hợp Tỳ Thổ bị suy yếu, Thận Thuỷ sẽ phản vũ lại. Trường hợp này gặp trong phù do suy dinh dưỡng (do thiếu ăn và bệnh đường tiêu hoá mạn tính không hấp thu được dinh dưỡng).
III. ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN:
Học thuyết Ngũ hành là nền tảng tư duy và hành động của y học cổ truyền, được ứng dụng trong khám bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh và tìm thuốc, chế thuốc.
1. Khám bệnh:
Dựa vào bảng quy loại Ngũ hành ta thu được những triệu chứng gợi ý như:
- Nhìn màu sắc da:
• Da xanh liên quan đến Can, huyết
• Da xạm đen liên quan đến Thận
• Da vàng liên quan bệnh của Tạng Tỳ
• Da đỏ hồng liên quan đến Tâm Hoả nhiệt...
- Tình trạng tinh thần:
• H ay cáu gắt, giận dỗi liên quan bệnh Can
• Vui mừng, cười hát thái quá, bệnh của Tâm
• Nộ thương Can (giận dữ tổn hại Can)
• Hỷ thương Tâm (Vui mừng thái quá hại Tâm)
• Bi thương Phế (Buồn quá hại Phế)
• Ưu tư thương Tỳ (Lo nghĩ nhiều hại Tỳ)
• Kinh khủng thương Thận (Sợ hãi quá hại Thận)
2. Chẩn bệnh:
Tìm căn nguyên bệnh. Triệu chứng bệnh thể hiện ra chủ yếu ở một Tạng, nhưng nguyên nhân có thể từ các Tạng khác gây ra:
• Chính tà: Nguyên nhân chính do tại tạng đó. Ví như chứng mất ngủ do Tâm huyết hư. Tâm hoả vượng.
• Hư tà: Nguyên nhân từ tạng Mẹ đưa đến. Ví như chứng nhức đầu choáng váng do Can hoả vượng. Nguyên nhân do Thận âm hư nên phải Bổ Thận và bình Can.
• Thực tà: Nguyên nhân từ tạng con. Ví như chứng khó thở, triệu chứng bệnh ở tạng Phế - do phù nề, nguyên nhân từ tạng Thận. Phép chữa phải tả thận (lợi tiểu) bình suyễn.
• Vi tà: Nguyên nhân từ tạng khắc. Ví như chứng đau thượng vị (viêm loét dạ dày) do Can khí phạm vị. Phép chữa phải là Sơ Can hoà Vị.
• Tặc tà: Nguyên nhân từ hành bị khắc. Ví như chứng phù dinh dưỡng. Thận thuỷ áp đảo lại tạng Tỳ gây phù. Phép chữa phải tả Thận bổ Tỳ.
3. Chữa bệnh:
• Dựa vào quan hệ Ngũ hành sinh khắc ta có nguyên tắc:
Con hư, bổ mẹ - Mẹ thực tả con
Ví dụ: Chứng Phế hư (Lao phổi, Tâm phế mạn) phép chữa là Bổ Tỳ vì tạng Tỳ là mẹ của tạng Phế.
Chứng Phế thực (khó thở) phép chữa là tả Thận vì tạng Thận là con của tạng Phế.
• Dựa vào quan hệ Ngũ hành tương thừa, tương vũ.
- Tương thừa: Bệnh do tạng khắc quá mạnh mà gây bệnh cho tạng bị khắc (Vi tà) ta phải vừa tả tạng khắc (Vi tà) vừa phải nâng đỡ tạng bệnh. (xem Vi tà ở trên).
- Tương vũ: Do tạng bị khắc phản vũ lại nên phép chữa phải tả tạng phản vũ (tặc tà) đồng thời nâng đỡ tạng bệnh. (xem Tặc tà ở trên).
4. Bào chế:
• Quy kinh cho một vị thuốc thường dựa vào màu và vị của nó có quan hệ với Tạng phủ trong cùng hành đó.
- Vị ngọt, màu vàng quan hệ kinh Tỳ
- Vị mặn, màu đen quan hệ kinh Thận
- Vị cay, màu trắng quan hệ kinh Phế
- Vị chua, màu xanh quan hệ kinh Can
- Vị đắng, màu đỏ quan hệ kinh Tâm.
• Khi bào chế, muốn dẫn thuốc vào kinh nào ta thường sao tẩm với phụ dược có cùng vị với kinh đó.
- Dẫn thuốc vào Tỳ, thường sao tẩm với mật đường.
- Dẫn thuốc vào Thận thường sao tẩm với nước muối.
- Dẫn thuốc vào Phế thường dùng rượu, nước gừng.
- Dẫn thuốc vào Can thường sao tẩm với dấm chua.
- Dẫn thuốc vào Tâm thường sao tẩm với nước mật đắng.
5. Tiết chế, dinh dưỡng:
• Trong ăn uống không nên dùng nhiều và kéo dài một loại, nên ăn tạp và thay đổi thức ăn vì:
- Ngọt nhiều quá sẽ hại Tỳ
- Mặn nhiều quá sẽ hại Thận
- Cay nhiều quá sẽ hại Phế
- Đắng nhiều quá sẽ hại Tâm
- Chua nhiều quá sẽ hại Can.
• Khi bị bệnh, cần kiêng khem những thứ có cùng vị liên quan Ngũ hành với tạng bệnh.
- Bệnh Thận không nên ăn nhiều muối mặn
- Bệnh Phế cần kiêng cay như tiêu, ớt, rượu
- Bệnh về tiêu hoá nên kiêng ăn ngọt béo nhiều...
IV. KẾT LUẬN:
Học thuyết Ngũ hành, cùng học thuyết Âm Dương là nền tảng của y học cổ truyềne, chỉ đạo xuyên suốt từ quá trình tư duy đến hoạt động phòng bệnh, chữa bệnh, y học cổ truyền cần học tập và ứng dụng vào việc khám, chữa bệnh của bản thân.
Học thuyết Ngũ hành là nền tảng tư duy và hành động của y học cổ truyền, được ứng dụng trong khám bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh và tìm thuốc, chế thuốc.
1. Khám bệnh:
Dựa vào bảng quy loại Ngũ hành ta thu được những triệu chứng gợi ý như:
- Nhìn màu sắc da:
• Da xanh liên quan đến Can, huyết
• Da xạm đen liên quan đến Thận
• Da vàng liên quan bệnh của Tạng Tỳ
• Da đỏ hồng liên quan đến Tâm Hoả nhiệt...
- Tình trạng tinh thần:
• H ay cáu gắt, giận dỗi liên quan bệnh Can
• Vui mừng, cười hát thái quá, bệnh của Tâm
• Nộ thương Can (giận dữ tổn hại Can)
• Hỷ thương Tâm (Vui mừng thái quá hại Tâm)
• Bi thương Phế (Buồn quá hại Phế)
• Ưu tư thương Tỳ (Lo nghĩ nhiều hại Tỳ)
• Kinh khủng thương Thận (Sợ hãi quá hại Thận)
2. Chẩn bệnh:
Tìm căn nguyên bệnh. Triệu chứng bệnh thể hiện ra chủ yếu ở một Tạng, nhưng nguyên nhân có thể từ các Tạng khác gây ra:
• Chính tà: Nguyên nhân chính do tại tạng đó. Ví như chứng mất ngủ do Tâm huyết hư. Tâm hoả vượng.
• Hư tà: Nguyên nhân từ tạng Mẹ đưa đến. Ví như chứng nhức đầu choáng váng do Can hoả vượng. Nguyên nhân do Thận âm hư nên phải Bổ Thận và bình Can.
• Thực tà: Nguyên nhân từ tạng con. Ví như chứng khó thở, triệu chứng bệnh ở tạng Phế - do phù nề, nguyên nhân từ tạng Thận. Phép chữa phải tả thận (lợi tiểu) bình suyễn.
• Vi tà: Nguyên nhân từ tạng khắc. Ví như chứng đau thượng vị (viêm loét dạ dày) do Can khí phạm vị. Phép chữa phải là Sơ Can hoà Vị.
• Tặc tà: Nguyên nhân từ hành bị khắc. Ví như chứng phù dinh dưỡng. Thận thuỷ áp đảo lại tạng Tỳ gây phù. Phép chữa phải tả Thận bổ Tỳ.
3. Chữa bệnh:
• Dựa vào quan hệ Ngũ hành sinh khắc ta có nguyên tắc:
Con hư, bổ mẹ - Mẹ thực tả con
Ví dụ: Chứng Phế hư (Lao phổi, Tâm phế mạn) phép chữa là Bổ Tỳ vì tạng Tỳ là mẹ của tạng Phế.
Chứng Phế thực (khó thở) phép chữa là tả Thận vì tạng Thận là con của tạng Phế.
• Dựa vào quan hệ Ngũ hành tương thừa, tương vũ.
- Tương thừa: Bệnh do tạng khắc quá mạnh mà gây bệnh cho tạng bị khắc (Vi tà) ta phải vừa tả tạng khắc (Vi tà) vừa phải nâng đỡ tạng bệnh. (xem Vi tà ở trên).
- Tương vũ: Do tạng bị khắc phản vũ lại nên phép chữa phải tả tạng phản vũ (tặc tà) đồng thời nâng đỡ tạng bệnh. (xem Tặc tà ở trên).
4. Bào chế:
• Quy kinh cho một vị thuốc thường dựa vào màu và vị của nó có quan hệ với Tạng phủ trong cùng hành đó.
- Vị ngọt, màu vàng quan hệ kinh Tỳ
- Vị mặn, màu đen quan hệ kinh Thận
- Vị cay, màu trắng quan hệ kinh Phế
- Vị chua, màu xanh quan hệ kinh Can
- Vị đắng, màu đỏ quan hệ kinh Tâm.
• Khi bào chế, muốn dẫn thuốc vào kinh nào ta thường sao tẩm với phụ dược có cùng vị với kinh đó.
- Dẫn thuốc vào Tỳ, thường sao tẩm với mật đường.
- Dẫn thuốc vào Thận thường sao tẩm với nước muối.
- Dẫn thuốc vào Phế thường dùng rượu, nước gừng.
- Dẫn thuốc vào Can thường sao tẩm với dấm chua.
- Dẫn thuốc vào Tâm thường sao tẩm với nước mật đắng.
5. Tiết chế, dinh dưỡng:
• Trong ăn uống không nên dùng nhiều và kéo dài một loại, nên ăn tạp và thay đổi thức ăn vì:
- Ngọt nhiều quá sẽ hại Tỳ
- Mặn nhiều quá sẽ hại Thận
- Cay nhiều quá sẽ hại Phế
- Đắng nhiều quá sẽ hại Tâm
- Chua nhiều quá sẽ hại Can.
• Khi bị bệnh, cần kiêng khem những thứ có cùng vị liên quan Ngũ hành với tạng bệnh.
- Bệnh Thận không nên ăn nhiều muối mặn
- Bệnh Phế cần kiêng cay như tiêu, ớt, rượu
- Bệnh về tiêu hoá nên kiêng ăn ngọt béo nhiều...
IV. KẾT LUẬN:
Học thuyết Ngũ hành, cùng học thuyết Âm Dương là nền tảng của y học cổ truyềne, chỉ đạo xuyên suốt từ quá trình tư duy đến hoạt động phòng bệnh, chữa bệnh, y học cổ truyền cần học tập và ứng dụng vào việc khám, chữa bệnh của bản thân.
HỌC THUYẾT TẠNG PHỦ
I. ĐẠI CƯƠNG
Học thuyết tạng phủ còn gọi là học thuyết tạng tượng
Học thuyết tạng phủ còn gọi là học thuyết tạng tượng
Tạng: Các tổ chức cơ quan trong cơ thể.
Tượng: Biểu tượng bên ngoài, các hiện tượng biểu hiện ra bên ngoài.
Tượng: Biểu tượng bên ngoài, các hiện tượng biểu hiện ra bên ngoài.
Quan sát cơ thể sống để nghiên cứu quy luật hoạt động, sự biểu hiện của các nội tạng gọi là Tạng tượng.
Tạng tượng bao gồm mọi tổ chức cơ quan và quy luật hoạt động của chúng : Ngũ tạng, Lục phủ, Phủ kỳ hằng...
Tạng phủ của Đông y không phải là môn học giải phẫu, hình thái học mà có thể tạm coi là môn Cơ thể Sinh Lý học. Mọi hoạt động sinh lý của con người đều từ tạng phủ, mọi thứ biến hóa bện lý cũng đều có liên quan đến tạng phủ
Dựa vào những hoạt động được thể hiện ra bên ngoài, người xưa sắp xếp những nhóm chức năng vào thành Tạng Phủ.
Chẳng hạn như: Thận của Đông y không phải là 2 quả thận đơn thuần mà là những chức năng một phần của Thần kinh trung ương của Sinh dục, Tiết niệu, có liên quan đến cả Hô hấp (Thận nạp khí)...
Trong cơ thể có 5 tạng (Ngũ tạng), 6 phủ (Lục phủ) và những thể chất khác như Não, Tử cung, Khí huyết, Tinh thần và Tân dịch.1. Các tạng:Tạng có chức năng chung là tàng giữ tinh khí. Có 5 tạng chính và 1 phụ là:
Tâm (phụ là Tâm bào) - Can - Tỳ - Phế - Thận. Quan hệ giữa các Tạng là quan hệ Ngũ hành sinh, khắc.
Tương sinh: Can sinh Tâm, Tâm sinh Tỳ, Tỳ sinh Phế, Phế sinh Thận, Thận sinh Can.
Tương khắc: Can khắc Tỳ, Tỳ khắc Thận, Thận khắc Tâm, Tâm khắc Phế, Phế khắc Can.2. Các phủ:Chức năng chung của các Phủ là truyền tống, hấp thu, bài tiết (Phủ có nghĩa là nơi trú ngụ) trên đầy thì dưới vơi và dưới vơi thì trên phải đầy, phải luôn thay đổi.
Ví như khi Vị rỗng thì Đại trường và Bàng quang phải đầy, khi ta ăn vào, Vị đầy thì Đại trường và Bàng quang phải tháo rỗng.
Có 6 phủ là: Đởm - Tiểu trường - Đại trường - Vị - Bảng quang và Tam tiêu.
Ngoài ra còn một số Phủ đặc biệt gọi là Phủ kỳ hằng như Não, Tử cung.
3. Quan hệ giữa Tạng và Phủ:
Là quan hệ Âm Dương, Biểu Lý. Biểu là ở phía bên ngoài, Lý là ở phía bên trong, Biểu thuộc dương, Lý thuộc âm.
Mỗi Tạng đều quan hệ biểu lý với một Phủ.
· Tâm biểu lý với Tiểu trường
· Can biểu lý với Đởm
· Tỳ biểu lý với Vị
· Phế biểu lý với Đại trường
· Thân biểu lý với Bàng quang
· Tâm bào biểu lý với Tam tiêu.
Tạng tượng bao gồm mọi tổ chức cơ quan và quy luật hoạt động của chúng : Ngũ tạng, Lục phủ, Phủ kỳ hằng...
Tạng phủ của Đông y không phải là môn học giải phẫu, hình thái học mà có thể tạm coi là môn Cơ thể Sinh Lý học. Mọi hoạt động sinh lý của con người đều từ tạng phủ, mọi thứ biến hóa bện lý cũng đều có liên quan đến tạng phủ
Dựa vào những hoạt động được thể hiện ra bên ngoài, người xưa sắp xếp những nhóm chức năng vào thành Tạng Phủ.
Chẳng hạn như: Thận của Đông y không phải là 2 quả thận đơn thuần mà là những chức năng một phần của Thần kinh trung ương của Sinh dục, Tiết niệu, có liên quan đến cả Hô hấp (Thận nạp khí)...
Trong cơ thể có 5 tạng (Ngũ tạng), 6 phủ (Lục phủ) và những thể chất khác như Não, Tử cung, Khí huyết, Tinh thần và Tân dịch.1. Các tạng:Tạng có chức năng chung là tàng giữ tinh khí. Có 5 tạng chính và 1 phụ là:
Tâm (phụ là Tâm bào) - Can - Tỳ - Phế - Thận. Quan hệ giữa các Tạng là quan hệ Ngũ hành sinh, khắc.
Tương sinh: Can sinh Tâm, Tâm sinh Tỳ, Tỳ sinh Phế, Phế sinh Thận, Thận sinh Can.
Tương khắc: Can khắc Tỳ, Tỳ khắc Thận, Thận khắc Tâm, Tâm khắc Phế, Phế khắc Can.2. Các phủ:Chức năng chung của các Phủ là truyền tống, hấp thu, bài tiết (Phủ có nghĩa là nơi trú ngụ) trên đầy thì dưới vơi và dưới vơi thì trên phải đầy, phải luôn thay đổi.
Ví như khi Vị rỗng thì Đại trường và Bàng quang phải đầy, khi ta ăn vào, Vị đầy thì Đại trường và Bàng quang phải tháo rỗng.
Có 6 phủ là: Đởm - Tiểu trường - Đại trường - Vị - Bảng quang và Tam tiêu.
Ngoài ra còn một số Phủ đặc biệt gọi là Phủ kỳ hằng như Não, Tử cung.
3. Quan hệ giữa Tạng và Phủ:
Là quan hệ Âm Dương, Biểu Lý. Biểu là ở phía bên ngoài, Lý là ở phía bên trong, Biểu thuộc dương, Lý thuộc âm.
Mỗi Tạng đều quan hệ biểu lý với một Phủ.
· Tâm biểu lý với Tiểu trường
· Can biểu lý với Đởm
· Tỳ biểu lý với Vị
· Phế biểu lý với Đại trường
· Thân biểu lý với Bàng quang
· Tâm bào biểu lý với Tam tiêu.
II. CHỨC NĂNG CÁC TẠNG:
1. Tạng Tâm (phụ Tâm bào):Tâm thuộc hành Hoả, là tạng đứng đầu các tạng phủ (Quân chủ chi quan). Tâm khai khiến ra lưỡi, vinh nhuận ra mặt, có những chức năng:
· Tâm chủ thần minh: Hay còn nói là Tâm tàng Thần. Tâm làm chủ những hoạt động tâm thần như nhận thức, tư duy, trí nhớ, thông minh, tương ứng những chức năng của vỏ đại não.
· Tâm chủ huyết mạch: Tâm phụ trách về tuần hoàn và máu. Huyết liên quan nhiều tạng khác như Can, Tỳ, Thận, nhưng Tâm là chính.
· Tâm bào: Là bộ phận bên ngoài như tấm áo ngoài của Tâm, có chức năng bảo vệ Tâm.
2. Tạng Can:
Can thuộc hành Mộc, tính ưa vận động và vươn toả, phò tá cho Tâm; cùng với Đởm là cơ sở cho tính quyết đoán, dũng cảm. Ta nói: Người can đảm; người to gan, lớn mật là dựa vào tính cách của tạng Can và Đởm.
Can khai khiếu ra mắt, vinh nhuận ra móng tay, chân.
· Can tàng huyết: Can chứa huyết và điều tiết lượng huyết trong cơ thể. Khi ngủ, máu về Can, khi hoạt động Can đưa máu tới các bộ phận. Xuất huyết có quan hệ tới chức năng của Can.
· Can chủ sơ tiết: Sơ là xua đẩy, tiết là ngọn ngành. Can thúc đẩy khí huyết đến mọi bộ phận trong cơ thể. Khí huyết lưu thông, tinh thần thoải mái, thư thái.
· Can chủ cân: Cân được hiểu là các giây chằng quanh khớp, cũng là những thần kinh ngoại biên. Chứng teo cơ cứng khớp, chân tay co quắp hoặc co giật là chứng bệnh thuộc Can.
3. Tạng Tỳ:
Tỳ thuộc hành Thổ, tính ôn hoà, nhu nhuận, đảm nhiệm công việc hậu cần cho cơ thể, chức năng hậu thiên. Tỳ khai khiếu ra miệng, vinh nhuận ra môi có các chức năng.
· Tỳ chủ vận hoá: Tỳ cùng Vị đảm nhiệm việc tiêu hoá thức ăn, chuyển thành Tinh chất. Tỳ vận hoá tốt cơ thể hoạt động và phát triển tốt.
· Tỳ thông huyết, nhiếp huyết: Tỳ sinh tinh (hậu thiên), tinh chuyển thành huyết. Tỳ đồng thời giúp huyết vận hành đúng đường. Chứng xuất huyết kéo dài có liên quan đến chức năng của Tỳ. · Tỳ chủ cơ nhục, chủ tứ chi: Tỳ trực tiếp nuôi dưỡng các cơ bắp, chân tay. Tỳ tốt thì cơ bắp chắc, chân tay vững mạnh. Chứng sa nội tạng có liên quan đến Tỳ.
4. Tạng Phế:
Phế thuộc hành Kim, có liên quan đặc biệt với Tâm vì cùng ở thượng tiêu, quan hệ Tâm - Phế là quan hệ Khí - Huyết. Phế khai khiếu ra mũi, vinh nhuận ra tiếng nói, có những chức năng:
· Phế chủ khí, chủ hô hấp: Phế tiếp thu thanh khí và đào thải trọc khí, tiếp nhận tinh chất từ Tỳ chuyển lên, phối hợp khí trời thành Tông khí.
Sự thở và tiếng nói trực tiếp do Phế đảm nhiệm. Chứng ho, khó thở, khản tiếng đều liên quan tạng Phế.
· Phế chủ tuyên phát, túc giáng:
- Tuyên phát là đưa khí ra kinh mạch, đặc biệt đưa Vệ khí ra phần biểu để bảo vệ cơ thể chống lại ngoại tà.
- Túc giáng là điều hành và phân bố thuỷ dịch trong cơ thể. Nếu trắc trở, nước sẽ ứ đọng cục bộ gây phù nề, thường ở phần trên cơ thể (Phù dị ứng).
· Phế chủ bì mao:
Phế đảm nhiệm phần biểu của cơ thể gồm da, lông. Hiểu rộng ra là hệ thống bảo vệ cơ thể, hệ thống miễn dịch.
Hay bị cảm mạo, mụn nhọt, dị ứng đều liên quan chức năng của Phế.
5. Tạng Thận:
Thận thuộc hành Thuỷ, là gốc của tiêu thiên (di truyền, huyết thống), quan hệ với Tâm là quan hệ Thuỷ - Hoả, Thận khai khiếu ra Tai và nhị âm (Hậu môn và lỗ đái), vinh nhuận ra Răng, Tóc. Tạng Thận có 2 phần gọi là:
- Thận âm hay Thận thuỷ bao gồm thận tinh.
- Thận dương hay Thận hoả bao gồm thận khí.
Thận có những chức năng:
· Thận chủ thuỷ: Thận cai quản và phân bố các thuỷ dịch trong cơ thể. Tuy nhiên mỗi tạng lại liên quan trực tiếp đến một loại dịch:
- Mô hôi là Tâm dịch
- Nước mắt là Can dịch
- Nước mũi là Phế dịch
- Nước bọt là Tỳ dịch
- Nước tiểu là Thận dịch.
Thận khí hoá nước, tham gia vào việc chuyển hoá nước trong cơ thể, cùng với:
- Tỳ vận hoá thuỷ thấp
- Phế thông điều thuỷ đạo
- Tam tiêu là đường thuỷ dịch của cơ thể.
Thận thanh lọc nước để đưa lên Phế và dồn phần trọc xuống Bàng quang để bài tiết ra ngoài.
· Thận tàng Tinh: Thận tàng giữ tinh tuý của cơ thể:
- Tinh hậu thiên do nguồn ăn uống, là chất nuôi dưỡng cơ thể, còn goi là tinh tạng phủ.
- Tinh tiên thiên còn gọi là tinh sinh dục; là hệ thống gien di truyền trong các tế bào sinh dục.
Quá trình sinh dục và phát dục do tinh tiên thiên và hậu thiên quyết định, liên quan trực tiếp đến thận khí.
- Quá trình phát dục ở nữ tính theo số 7:
7 tuổi: thân khí thịnh, răng thay, tóc mọc dài.
14 tuổi: thiên quý đến, có kinh, có thể mang thai.
21 tuổi: thận khí đầy đủ, thân thể lớn mạnh.
28 tuổi: phát triển cực mạnh mọi mặt.
35 tuổi: bắt đầu suy.
42 tuổi: suy rõ
49 tuổi: thiên quý cạn. Mãn kinh.
- Quá trình phát dục ở nam tính theo số 8:
8 tuổi: thận khí thực, răng tóc thay.
16 tuổi: thận khí thịnh, thiên quý đến, có thể sinh con.
24 tuổi: thận khí đầy đủ, thân thể cường tráng.
32 tuổi: phát triển cực mạnh moi mặt.
40 tuổi: bắt đầu suy.
48 tuổi: suy rõ, phải dùng kính, tóc bạc.
56 tuổi: can khí suy yêu, gân mạch kém.
64 tuổi: thiên quý cạn, râu tóc bạc, răng long không sinh sản được.
(Ghi chú: Ngày nay con người có khác xưa nên tuổi thọ kéo dài, thể lực tăng hơn.
Phân loại theo quốc tế: 50-60 mới là trung niên; 60-70 mới là người có tuổi, trên 70 mới là người già)
· Thận chủ mệnh môn hoả: Mệnh môn hoả là quá trình sinh nhiệt lượng, năng lượng cần thiết cho những hoạt động tối thiểu của cơ thể. Hoả của Thận được coi là "Tướng hoả" ví tựa như sức nóng trong lòng đất so với sức nóng mặt trời là quân hoả.
Hoả của Thận suy sẽ ảnh hưởng ngay đến chức năng của Tâm và Tỳ.
· Thận nạp khí: Trong hô hấp, thận phụ trách động tác hấp còn Phế phụ trách động tác thở ra (Hô). Bệnh hen phế quản có liên quan đến tạng Thận.
· Thận chủ xương tuỷ, liên quan Não: Tinh sinh ra tủy, tủy sinh cốt. Chứng còi xương, chậm đi ở trẻ, rụng răng ở người lớn có liên quan tạng Thận.
Thận cũng luôn bổ sung tinh tuỷ cho não. Thận tinh hư, trí tuệ chậm phát triển, đần độ nên phải bổ Thận.
Tinh sinh huyết, huyết nuôi dưỡng tóc nên sự thịnh suy của Thận ảnh hưởng đến tóc.
1. Tạng Tâm (phụ Tâm bào):Tâm thuộc hành Hoả, là tạng đứng đầu các tạng phủ (Quân chủ chi quan). Tâm khai khiến ra lưỡi, vinh nhuận ra mặt, có những chức năng:
· Tâm chủ thần minh: Hay còn nói là Tâm tàng Thần. Tâm làm chủ những hoạt động tâm thần như nhận thức, tư duy, trí nhớ, thông minh, tương ứng những chức năng của vỏ đại não.
· Tâm chủ huyết mạch: Tâm phụ trách về tuần hoàn và máu. Huyết liên quan nhiều tạng khác như Can, Tỳ, Thận, nhưng Tâm là chính.
· Tâm bào: Là bộ phận bên ngoài như tấm áo ngoài của Tâm, có chức năng bảo vệ Tâm.
2. Tạng Can:
Can thuộc hành Mộc, tính ưa vận động và vươn toả, phò tá cho Tâm; cùng với Đởm là cơ sở cho tính quyết đoán, dũng cảm. Ta nói: Người can đảm; người to gan, lớn mật là dựa vào tính cách của tạng Can và Đởm.
Can khai khiếu ra mắt, vinh nhuận ra móng tay, chân.
· Can tàng huyết: Can chứa huyết và điều tiết lượng huyết trong cơ thể. Khi ngủ, máu về Can, khi hoạt động Can đưa máu tới các bộ phận. Xuất huyết có quan hệ tới chức năng của Can.
· Can chủ sơ tiết: Sơ là xua đẩy, tiết là ngọn ngành. Can thúc đẩy khí huyết đến mọi bộ phận trong cơ thể. Khí huyết lưu thông, tinh thần thoải mái, thư thái.
· Can chủ cân: Cân được hiểu là các giây chằng quanh khớp, cũng là những thần kinh ngoại biên. Chứng teo cơ cứng khớp, chân tay co quắp hoặc co giật là chứng bệnh thuộc Can.
3. Tạng Tỳ:
Tỳ thuộc hành Thổ, tính ôn hoà, nhu nhuận, đảm nhiệm công việc hậu cần cho cơ thể, chức năng hậu thiên. Tỳ khai khiếu ra miệng, vinh nhuận ra môi có các chức năng.
· Tỳ chủ vận hoá: Tỳ cùng Vị đảm nhiệm việc tiêu hoá thức ăn, chuyển thành Tinh chất. Tỳ vận hoá tốt cơ thể hoạt động và phát triển tốt.
· Tỳ thông huyết, nhiếp huyết: Tỳ sinh tinh (hậu thiên), tinh chuyển thành huyết. Tỳ đồng thời giúp huyết vận hành đúng đường. Chứng xuất huyết kéo dài có liên quan đến chức năng của Tỳ. · Tỳ chủ cơ nhục, chủ tứ chi: Tỳ trực tiếp nuôi dưỡng các cơ bắp, chân tay. Tỳ tốt thì cơ bắp chắc, chân tay vững mạnh. Chứng sa nội tạng có liên quan đến Tỳ.
4. Tạng Phế:
Phế thuộc hành Kim, có liên quan đặc biệt với Tâm vì cùng ở thượng tiêu, quan hệ Tâm - Phế là quan hệ Khí - Huyết. Phế khai khiếu ra mũi, vinh nhuận ra tiếng nói, có những chức năng:
· Phế chủ khí, chủ hô hấp: Phế tiếp thu thanh khí và đào thải trọc khí, tiếp nhận tinh chất từ Tỳ chuyển lên, phối hợp khí trời thành Tông khí.
Sự thở và tiếng nói trực tiếp do Phế đảm nhiệm. Chứng ho, khó thở, khản tiếng đều liên quan tạng Phế.
· Phế chủ tuyên phát, túc giáng:
- Tuyên phát là đưa khí ra kinh mạch, đặc biệt đưa Vệ khí ra phần biểu để bảo vệ cơ thể chống lại ngoại tà.
- Túc giáng là điều hành và phân bố thuỷ dịch trong cơ thể. Nếu trắc trở, nước sẽ ứ đọng cục bộ gây phù nề, thường ở phần trên cơ thể (Phù dị ứng).
· Phế chủ bì mao:
Phế đảm nhiệm phần biểu của cơ thể gồm da, lông. Hiểu rộng ra là hệ thống bảo vệ cơ thể, hệ thống miễn dịch.
Hay bị cảm mạo, mụn nhọt, dị ứng đều liên quan chức năng của Phế.
5. Tạng Thận:
Thận thuộc hành Thuỷ, là gốc của tiêu thiên (di truyền, huyết thống), quan hệ với Tâm là quan hệ Thuỷ - Hoả, Thận khai khiếu ra Tai và nhị âm (Hậu môn và lỗ đái), vinh nhuận ra Răng, Tóc. Tạng Thận có 2 phần gọi là:
- Thận âm hay Thận thuỷ bao gồm thận tinh.
- Thận dương hay Thận hoả bao gồm thận khí.
Thận có những chức năng:
· Thận chủ thuỷ: Thận cai quản và phân bố các thuỷ dịch trong cơ thể. Tuy nhiên mỗi tạng lại liên quan trực tiếp đến một loại dịch:
- Mô hôi là Tâm dịch
- Nước mắt là Can dịch
- Nước mũi là Phế dịch
- Nước bọt là Tỳ dịch
- Nước tiểu là Thận dịch.
Thận khí hoá nước, tham gia vào việc chuyển hoá nước trong cơ thể, cùng với:
- Tỳ vận hoá thuỷ thấp
- Phế thông điều thuỷ đạo
- Tam tiêu là đường thuỷ dịch của cơ thể.
Thận thanh lọc nước để đưa lên Phế và dồn phần trọc xuống Bàng quang để bài tiết ra ngoài.
· Thận tàng Tinh: Thận tàng giữ tinh tuý của cơ thể:
- Tinh hậu thiên do nguồn ăn uống, là chất nuôi dưỡng cơ thể, còn goi là tinh tạng phủ.
- Tinh tiên thiên còn gọi là tinh sinh dục; là hệ thống gien di truyền trong các tế bào sinh dục.
Quá trình sinh dục và phát dục do tinh tiên thiên và hậu thiên quyết định, liên quan trực tiếp đến thận khí.
- Quá trình phát dục ở nữ tính theo số 7:
7 tuổi: thân khí thịnh, răng thay, tóc mọc dài.
14 tuổi: thiên quý đến, có kinh, có thể mang thai.
21 tuổi: thận khí đầy đủ, thân thể lớn mạnh.
28 tuổi: phát triển cực mạnh mọi mặt.
35 tuổi: bắt đầu suy.
42 tuổi: suy rõ
49 tuổi: thiên quý cạn. Mãn kinh.
- Quá trình phát dục ở nam tính theo số 8:
8 tuổi: thận khí thực, răng tóc thay.
16 tuổi: thận khí thịnh, thiên quý đến, có thể sinh con.
24 tuổi: thận khí đầy đủ, thân thể cường tráng.
32 tuổi: phát triển cực mạnh moi mặt.
40 tuổi: bắt đầu suy.
48 tuổi: suy rõ, phải dùng kính, tóc bạc.
56 tuổi: can khí suy yêu, gân mạch kém.
64 tuổi: thiên quý cạn, râu tóc bạc, răng long không sinh sản được.
(Ghi chú: Ngày nay con người có khác xưa nên tuổi thọ kéo dài, thể lực tăng hơn.
Phân loại theo quốc tế: 50-60 mới là trung niên; 60-70 mới là người có tuổi, trên 70 mới là người già)
· Thận chủ mệnh môn hoả: Mệnh môn hoả là quá trình sinh nhiệt lượng, năng lượng cần thiết cho những hoạt động tối thiểu của cơ thể. Hoả của Thận được coi là "Tướng hoả" ví tựa như sức nóng trong lòng đất so với sức nóng mặt trời là quân hoả.
Hoả của Thận suy sẽ ảnh hưởng ngay đến chức năng của Tâm và Tỳ.
· Thận nạp khí: Trong hô hấp, thận phụ trách động tác hấp còn Phế phụ trách động tác thở ra (Hô). Bệnh hen phế quản có liên quan đến tạng Thận.
· Thận chủ xương tuỷ, liên quan Não: Tinh sinh ra tủy, tủy sinh cốt. Chứng còi xương, chậm đi ở trẻ, rụng răng ở người lớn có liên quan tạng Thận.
Thận cũng luôn bổ sung tinh tuỷ cho não. Thận tinh hư, trí tuệ chậm phát triển, đần độ nên phải bổ Thận.
Tinh sinh huyết, huyết nuôi dưỡng tóc nên sự thịnh suy của Thận ảnh hưởng đến tóc.
III. CHỨC NĂNG CÁC PHỦ:
1. Đởm: Đởm chứa mật, giúp cho Tỳ tiêu hoá, Đởm còn có chức năng về tinh thần, chủ quyết đoán. Chứng hoàng đản có liên quan trực tiếp tới Đởm.
2. Vị: Vị chứa đựng và làm nhừ đồ ăn, giúp cho Tỳ vận hoá thức ăn. Vị và Tỳ được coi là gốc của hậu thiên. Dựa vào Vị khí người ta tiên lượng tốt xấu của bệnh và đánh giá kết quả điều trị. "Còn vị khí sẽ sống, hết vị khí sẽ chết". Bảo vệ Vị khí là một nguyên tắc điều trị của Đông y.
3. Tiểu trường: Tiểu trường phân lọc tinh chất do Tỳ vận hoá từ thức ăn. Phần thanh được hấp thu tại Tiểu trường rồi đưa lên Phế; phần trọc chuyển xuống Bàng quang và Đại trường để bài tiết ra ngoài.
Tiểu trường biểu lý với Tâm nên Nhiệt ở tạng Tâm có thể đi xuống Tiểu trường gây chứng đái máu.
4. Đại trường: Đại trường chứa đựng và bài tiết phân. Các chứng lói dom (thoát giang), trĩ, lỵ là bệnh của Đại trường. Đại trường quan hệ biểu lý với Phế nên bệnh của Đại trường ảnh hưởng đến Phế. Phế nhiệt gây táo bón và ngược Đại trường bón sẽ gây ho.
5. Bàng quang: Bảng quang chứa đựng và bài tiết nước tiểu. Thận hư sẽ gây rồi loạn tiểu tiện. Các chứng đái đục, đái buốt, đái rắt liên quan đến Bàng quang.
6. Tam tiêu: Tam tiêu là 3 phần của thân mình: Thượng tiêu là phần từ miệng đến tâm vị; trung tiêu là phần từ tâm vị đến môn vị; hạ tiêu là phần từ môn vị đến hậu môn.
· Tam tiêu là đường phân bố thuỷ dịch trong cơ thể: nước ở thượng tiêu toả như mây mù, ở trung tiêu đọng lại như ao hồ, ở hạ tiêu chảy như nước trong suối lạch. Lực điều hành thuỷ dịch do Phế khí (Phế thông điều thuỷ đạo).
· Tam tiện cũng là 3 trung tâm phát nhiệt của cơ thể.
IV. CÁC THỂ CHẤT KHÁC:
1. Khí - Huyết: Khí và Huyết quan hệ âm dương. Khí là dương, Huyết là âm. Khí Huyết
Huyết là mẹ của Khí, Khí là thống soái của Huyết. Khí hành, Huyết hành; Khí trệ, Huyết ứ.
1.1. Khí:
Khí là động lực cho mọi hoạt động của cơ thể. Mỗi tạng cần một dạng khí riêng goi theo tên tạng đó như Tâm khí, Thân khí, Can khí, Tỳ khí, Phế khí.
Dựa vào nguồn xuất phát của khí ta có:
- Tông khí từ Thượng tiêu (Tâm Phế)
- Trung khí từ Trung tiêu (Tỳ Vị)
- Nguyên khí từ Hạ tiêu (Can Thận).
1.2. Huyết:
Huyết là chất dịch màu đỏ được Thận tạo ra từ Tinh, Huyết do Tâm chủ quản, do Tỳ khống nhiếp và được tàng chứa tại Can.
2. Tinh - Thần:Tinh và Thần quan hệ âm dương, Tinh là âm, Thần là dương. Tinh dồi dào đày đủ thì Thần minh mẫn, vững vàng.
2.1. Tinh:
Tinh là cơ sở vật chất, Khí và thần đều do Tinh. Tinh, Khí, Thần là yếu tố cơ bản của sự sống. Tinh bao gồm Tinh tiên thiên và Tinh hậu thiên có quan hệ hỗ tương.
· Tinh tiên thiên là bẩm tố từ bô mẹ, là hệ gien trong các nhiễm sắc thể của tế bào sinh dục, tinh trực thuộc Thận, mang tính huyết thống, đặc điểm giống nòi.
· Tinh hậu thiên do Tỳ vận hoá thức ăn. Tinh hậu thiên là nguồn động lực cho các Tạng Phủ.
Muối cải tạo giống nòi cần quan tâm bồi dưỡng, cải tạo cả hai loại tinh: tinh tiên thiên (giống, gieo) và tinh hậu thiên (thức ăn, môi sinh).
2.2. Thần:
Thần bao gồm những hoạt động tâm thần, tư duy, ý thức đồng thời chỉ huy, điều hoà chức năng của các tạng phủ. Tinh, Khí đầy đủ thì Thần sáng suốt, vững vàng, có thể coi Thần là biểu hiện của Tâm qua ánh mắt, vẻ mặt và ứng xử.
3. Tân - Dịch:Tân, Dịch là hai loại chất lỏng, thuộc âm, do Thận chủ quan, nguồn gốc từ Tỳ tạo ra.
· Tân: Là chất dịch trong, dịch gian bào.
Tác dụng làm nhu nhuận da thịt.
Ỉa chảy, ra mồ hôi nhiều sẽ làm Tân khô kiệt (Hội chứng mất nước và điện giải).
· Dịch: Là chất dịch đục thường ở trong bao khớp.
Tác dụng làm trơn nhờn khớp xương.
Sốt cao, ỉa chảy, nôn, ra mồ hôi nhiều là nguyên nhân làm khô cạn Tân dịch. Rối loạn chức năng của Phế, Tỳ, Thận làm ứ đọng Tân dịch gây chứng phù thũng.
1. Đởm: Đởm chứa mật, giúp cho Tỳ tiêu hoá, Đởm còn có chức năng về tinh thần, chủ quyết đoán. Chứng hoàng đản có liên quan trực tiếp tới Đởm.
2. Vị: Vị chứa đựng và làm nhừ đồ ăn, giúp cho Tỳ vận hoá thức ăn. Vị và Tỳ được coi là gốc của hậu thiên. Dựa vào Vị khí người ta tiên lượng tốt xấu của bệnh và đánh giá kết quả điều trị. "Còn vị khí sẽ sống, hết vị khí sẽ chết". Bảo vệ Vị khí là một nguyên tắc điều trị của Đông y.
3. Tiểu trường: Tiểu trường phân lọc tinh chất do Tỳ vận hoá từ thức ăn. Phần thanh được hấp thu tại Tiểu trường rồi đưa lên Phế; phần trọc chuyển xuống Bàng quang và Đại trường để bài tiết ra ngoài.
Tiểu trường biểu lý với Tâm nên Nhiệt ở tạng Tâm có thể đi xuống Tiểu trường gây chứng đái máu.
4. Đại trường: Đại trường chứa đựng và bài tiết phân. Các chứng lói dom (thoát giang), trĩ, lỵ là bệnh của Đại trường. Đại trường quan hệ biểu lý với Phế nên bệnh của Đại trường ảnh hưởng đến Phế. Phế nhiệt gây táo bón và ngược Đại trường bón sẽ gây ho.
5. Bàng quang: Bảng quang chứa đựng và bài tiết nước tiểu. Thận hư sẽ gây rồi loạn tiểu tiện. Các chứng đái đục, đái buốt, đái rắt liên quan đến Bàng quang.
6. Tam tiêu: Tam tiêu là 3 phần của thân mình: Thượng tiêu là phần từ miệng đến tâm vị; trung tiêu là phần từ tâm vị đến môn vị; hạ tiêu là phần từ môn vị đến hậu môn.
· Tam tiêu là đường phân bố thuỷ dịch trong cơ thể: nước ở thượng tiêu toả như mây mù, ở trung tiêu đọng lại như ao hồ, ở hạ tiêu chảy như nước trong suối lạch. Lực điều hành thuỷ dịch do Phế khí (Phế thông điều thuỷ đạo).
· Tam tiện cũng là 3 trung tâm phát nhiệt của cơ thể.
IV. CÁC THỂ CHẤT KHÁC:
1. Khí - Huyết: Khí và Huyết quan hệ âm dương. Khí là dương, Huyết là âm. Khí Huyết
Huyết là mẹ của Khí, Khí là thống soái của Huyết. Khí hành, Huyết hành; Khí trệ, Huyết ứ.
1.1. Khí:
Khí là động lực cho mọi hoạt động của cơ thể. Mỗi tạng cần một dạng khí riêng goi theo tên tạng đó như Tâm khí, Thân khí, Can khí, Tỳ khí, Phế khí.
Dựa vào nguồn xuất phát của khí ta có:
- Tông khí từ Thượng tiêu (Tâm Phế)
- Trung khí từ Trung tiêu (Tỳ Vị)
- Nguyên khí từ Hạ tiêu (Can Thận).
1.2. Huyết:
Huyết là chất dịch màu đỏ được Thận tạo ra từ Tinh, Huyết do Tâm chủ quản, do Tỳ khống nhiếp và được tàng chứa tại Can.
2. Tinh - Thần:Tinh và Thần quan hệ âm dương, Tinh là âm, Thần là dương. Tinh dồi dào đày đủ thì Thần minh mẫn, vững vàng.
2.1. Tinh:
Tinh là cơ sở vật chất, Khí và thần đều do Tinh. Tinh, Khí, Thần là yếu tố cơ bản của sự sống. Tinh bao gồm Tinh tiên thiên và Tinh hậu thiên có quan hệ hỗ tương.
· Tinh tiên thiên là bẩm tố từ bô mẹ, là hệ gien trong các nhiễm sắc thể của tế bào sinh dục, tinh trực thuộc Thận, mang tính huyết thống, đặc điểm giống nòi.
· Tinh hậu thiên do Tỳ vận hoá thức ăn. Tinh hậu thiên là nguồn động lực cho các Tạng Phủ.
Muối cải tạo giống nòi cần quan tâm bồi dưỡng, cải tạo cả hai loại tinh: tinh tiên thiên (giống, gieo) và tinh hậu thiên (thức ăn, môi sinh).
2.2. Thần:
Thần bao gồm những hoạt động tâm thần, tư duy, ý thức đồng thời chỉ huy, điều hoà chức năng của các tạng phủ. Tinh, Khí đầy đủ thì Thần sáng suốt, vững vàng, có thể coi Thần là biểu hiện của Tâm qua ánh mắt, vẻ mặt và ứng xử.
3. Tân - Dịch:Tân, Dịch là hai loại chất lỏng, thuộc âm, do Thận chủ quan, nguồn gốc từ Tỳ tạo ra.
· Tân: Là chất dịch trong, dịch gian bào.
Tác dụng làm nhu nhuận da thịt.
Ỉa chảy, ra mồ hôi nhiều sẽ làm Tân khô kiệt (Hội chứng mất nước và điện giải).
· Dịch: Là chất dịch đục thường ở trong bao khớp.
Tác dụng làm trơn nhờn khớp xương.
Sốt cao, ỉa chảy, nôn, ra mồ hôi nhiều là nguyên nhân làm khô cạn Tân dịch. Rối loạn chức năng của Phế, Tỳ, Thận làm ứ đọng Tân dịch gây chứng phù thũng.
Học thuyết Lục Phủ
1. Đởm
* Chứa mật, còn có chức năng về tinh thần - là chủ về sự quyết đoán, lòng dũng cảm...
* Can và Đởm có quan hệ biểu lý: can bài tiết ra mật được chứa đựng ở Đởm, do đó khi có bệnh ở Đởm thường xuất hiện chứng vàng da, miệng đắng, nôn mửa ra chất đắng.
* Biểu hiện bệnh lý:
- Đởm hàn: nôn mửa, chóng mặt, mất ngủ, rêu lưỡi cáu nhờn.
- Đởm nhiệt: đắng miệng, ù tai, đau sườn, sốt rét, sốt nóng.
- Đởm hư: ngủ lơ mơ, hay giật mình, chóng mặt hay thở dài.
- Đởm thực: hay cáu giận, bực tức, tức hạ sườn phải, ngủ nhiều, chảy nước mắt.
2. Vị
Chứa đựng, nghiền nát thức ăn và truyền xuống Tiểu trường. Biểu hiện bệnh lý:
- Vị hàn: đau âm ỉ vùng thượng vị, nôn ra nước trong, rêu lưỡi trắng, chất lưỡi nhạt, mạch chậm.
- Vị nhiệt: miệng hôi, môi đỏ, răng lợi sưng đau, cồn cào, ăn mau đói, khát nước.
- Vị hư: môi lưỡi trắng nhợt, biếng ăn, đau tức vùng thượng vị.
- Vị thực: bụng đầy tức, ợ chua, bí đại tiện.
3. Tiểu trường
Nhận thức ăn từ Vị xuống, hấp thu các chất dinh dưỡng, phần còn lại chuyển xuống Đại trường. Biểu hiện bệnh lý:
- Tiểu trường hàn: nước tiểu trong, dài
- Tiểu trường nhiệt: nước tiểu đó, sẻn, đau nhức ở bộ phận sinh dục
- Tiểu trường hư: hay đái vặt, đái són
- Tiểu trường thực: đau bụng dữ dội
4. Đại trường
Chứa đựng và bài tiết các chất cặn bã. Biểu hiện bệnh lý:
- Đại trường hàn: đại tiện lỏng, sôi bụng
- Đại trường nhiệt: môi miệng khô, ỉa phân lẫn máu, phân khắm, hậu môn đỏ
- Đại trường hư: đại tiện không tự chủ, hoặc phân không khô táo nhưng khó đi, sa trực tràng
- Đại trường thực: đại tiện táo bón, đau bụng, cự án
5. Bàng quang
Chứa đựng và bài tiết nước tiểu. Biểu hiện bệnh lý:
- Bàng quang hàn: nước tiểu trong, lượng nhiều.
- Bàng quang nhiệt: nước tiểu đỏ, sẻn, són đái, đái máu, nóng trong niệu đạo, phát ban
- Bàng quang thực: bí đái, bụng dưới đầy tức
6. Tam tiêu
Là nhóm chức năng nói lên quan hệ hữu cơ giữa các hoạt động của các tạng phủ trên và dưới với nhau.
Công năng của tam tiêu: lưu thông khí huyết, tân dịch; làm ngấu nhừ đồ ăn và thông lợi đường nước (sự khí hoá tam tiêu).
Thượng tiêu: chủ “thu nạp”, gồm hoạt động của tạng Tâm, Phế. Thượng tiêu ví như sương mù nghĩa là thượng tiêu phân bố ngũ cốc đi khắp nơi làm ấm da dẻ, nuôi thân thể, mượt lông tóc như sương mù rơi xuống gọi là khí.
Trung tiêu: chủ “vận hoá”, gồm hoạt động của các tạng tỳ, vị. Trung tiêu ví như nước sủi bọt là chỉ vào công năng của tỳ, Vị đó là vận hoá thuỷ cốc, chưng bốc khí huyết, tân dịch để nuôi dưỡng khắp toàn thân.
Hạ tiêu: chủ “xuất” (đưa ra). Hạ tiêu gồm hoạt động của tạng Can, Thận. Hạ tiêu ví như ngòi rãnh là chỗ nước chảy ra, nghĩa là đưa thuỷ dịch xuống gạn lọc ra thanh trọc và bài tiết đại tiểu tiện.. Có sự liên quan với nội tạng khác nhau:
Tam tiêu có quan hệ biểu lý với Tâm bào lạc.
Lục phủ
Các hoạt động Khí - Huyết - Tinh - Thần - Tân dịch
1. Khí: là động lực (năng lượng) thúc đẩy mọi hoạt động của cơ thể con người
Khí có quan hệ âm dương với huyết, khí thuộc dương, huyết thuộc âm. Khí là mẹ của huyết.
Biểu hiện bệnh lý:
- Khí hư: suy nhược cơ thể
- Phế khí hư: chức năng hô hấp giảm
- Tỳ khí hư: chức năng tiêu hoá giảm
- Khí trệ: các cơn đau do co thắt các tạng phủ, các cơ, ợ hơi, đầy hơi, nôn nấc...
- Khí uất: trạng thái tinh thần uất ức do sang chấn tinh thần,
- Khí nghịch: phế khí nghịch gây ho, tức ngực, khó thở.
can khí nghịch: đau đầu, chóng mặt, ngực sườn đầy tức, đỏ mặt, ù tai.
vị khí nghịch: nôn, nấc, ợ hơi
2. Huyết: được tạo thành do chất tinh hoa của đồ ăn, được Tỳ vận hoá ra và kết hợp với Tinh được tàng trữ ở Thận sinh ra. Huyết vận hành trong huyết quản nhờ có Khí thúc đẩy.
Biểu hiện bệnh lý:
- Huyết hư: da xanh, niêm mạc nhợt, hay đánh trống ngực
- Huyết ứ: đau nhức tại một vị trí: sưng, nóng, đỏ, đau...
- Huyết nhiệt: mụn nhọt, mẩn ngứa, dị ứng
- Xuất huyết: máu thoát khỏi huyết quản dưới nhiều hình thức
3. Tinh: là cơ sở vật chất của hoạt động tinh thần
Tinh tiên thiên là bẩm tố của cha mẹ truyền lại qua tế bào sinh dục.
Tinh hậu thiên do tạng Tỳ vận hoá từ đồ ăn, thức uống.
4. Thần: là vô hình, để chỉ những hoạt động về tinh thần, ý thức và tư duy của người ta. Thần biểu hiện sự sống “còn Thần thì sống, mất Thần thì chết”.
Thần tốt: tỉnh táo, linh hoạt, mắt sáng, ý thức tốt.
Thần yếu: vẻ mặt bơ phờ, ánh mắt mờ tối, thờ ơ, lãnh đạm, ý thức rối loạn.
Tinh, Khí, Thần là 3 thứ quý nhất của sự sống (gọi là tam bảo).
5. Tân dịch: tân, dịch là các chất lỏng trong cơ thể, có tính chất dinh dưỡng.
Chức năng chủ yếu là làm nhu nhuận bì phu, làm trơn các khớp để cử động dễ dàng. Vốn cùng một thể nằm trong tổ chức huyết dịch nên gọi chung là tân, dịch.
Đại cương về huyệt - lạc
1. Đại cương về huyệt
1.1. Định Nghĩa:
Huyệt là nơi thần khí và khí của tạng phủ đến và đi ra ngoài cơ thể.
Được phân bố khắp phần ngoài cơ thể, nhưng không phải hình thái tại chỗ của da, cơ, gân, xương.
Huyệt có liên quan chặt chẽ với các hoạt động sinh lý và biểu hiện bệnh lý của các tạng phủ trong cơ thể.
Là nơi giúp cho việc chẩn đoán, áp dụng thủ thuật châm cứu chữa bệnh và phòng bệnh một cách tích cực.
Tên chung của các loại huyệt gọi là du huyệt ( huyệt là chỗ trống không, du là sự vận chuyển).
1.2. Phân loại chung của du huyệt (3loại)
* Huyệt nằm trên đường kinh (kinh nguyệt): 690 huyệt.
* Huyệt nằm ngoài đường kinh (kinh kỳ ngoại huyệt): trên 200 huyệt, các huyệt này có vị trí cố định và tác dụng nhất định.
* Á thị huyệt: vị trí không cố định, không tồn tại mãi mãi, chỉ xuất hiện ở những chỗ thấy đau.
1.3. Phương pháp tìm vị trí huyệt
1.3.1. Phương pháp đo để xác định huyệt
* Cách chia đoạn từng phần cơ thể (cốt độ pháp):
* Cách xác định huyệt bằng thốn đồng thân:
- Thốn là gì ?
* Dựa theo trong ngoài, lấy theo mô hình châm cứu cổ điển, ngón cái của tay và chân thuộc phía trong, ngón út của tay và chân thuộc phía ngoài.
1.3.2. Lấy huyệt theo mốc giải phẫu và hình thể tự nhiên
- Dựa vào các cấu tạo cố định như tai, mắt, mũi, miệng, lông mày
- Dựa vào nếp nhăn của da
- Dựa vào đặc điểm xương làm mốc lấy huyệt
- Dựa vào đặc điểm cơ gân làm mốc
1.3.3. Lấy huyệt theo tư thế hoạt động của cơ thể :
Người bệnh phải thực hiện một số động tác nhất định theo chỉ dẫn của bác sĩ mới xác định được huyệt
2. Đại cương về kinh lạc:
- Có 12 đường kinh chính và 2 đường kinh phụ là mạch Nhâm và mạch Đốc.
- Đường kinh là những đường thẳng, đi từ tạng phủ ra ngoài da.
- Lạc là những đường ngang nối liền các đường kinh với nhau, tạo thành một mạng lưới chằng chịt khắp cơ thể.
Trong đường kinh có kinh khí vận hành để nuôi dưỡng cơ thể, làm cơ thể tạo thành một khối thống nhất.
- Tác dụng của hệ thống kinh lạc:
+ Về sinh lý: thông hành khí huyết trong các tổ chức của cơ thể, chống ngoại tà bảo vệ cơ thể.
liên kết các tổ chức cơ thể (tạng, phủ, tứ chi, chín khiếu, cân, mạch, xương, da) có chức năng khác nhau thành một khối thống nhất.
+ Về bệnh lý:
ngoại tà xâm nhập vào đường kinh gây bệnh.
Ngoại tà thường truyền từ kinh lạc vào phủ tạng.
Bệnh ở phủ tạng thường có những biểu hiện bệnh lý ở đường kinh mạch đi qua. ví dụ:
+ Về chẩn đoán:
Dựa vào những thay đổi cảm giác, điện sinh vật trên đường đi của kinh mạch để chẩn đoán bệnh thuộc tạng phủ
Dựa vào đo thông số về điện sinh vật của các tỉnh huyệt, nguyên huyệt bằng máy đo kinh lạc để đánh giá được tình trạng hư thực của khí huyết, tạng phủ so với số liệu trung bình hoặc so sánh hai bên cơ thể với nhau.
+ Về chữa bệnh: sử dụng phương pháp châm cứu, xoa bóp. thuốc (sự quy kinh cả thuốc) để chữa bệnh
Nguyên nhân gây bệnh theo y học cổ truyền
Xác định được nguyên nhân gây bệnh là 1 việc rất phức tạp, vì có nhiều yếu tố, nguyên nhân gây bệnh. Dựa vào các nhân tố chính gây nên bệnh, Y học cổ truyền đã chia ra làm mấy loại sau:
- Hoàn cảnh thiên nhiên (khí hậu, địa lý…) ảnh hưởng đến con người và thường gom vào 6 loại gọi chung là 6 khí: Phong (gió), Hàn (lạnh), Thử (nóng), Thấp (ẩm ướt), Táo (khô ráo), Hỏa (nhiệt) tức lục khí, lục Dâm gọi là nguyên nhân bên ngoài.
- Hoàn cảnh gây ra những rối loạn Tâm sinh lý do 7 thứ tình (Vui, buồn, giận, lo, nghĩ, kinh, sợ) gọi là nguyên nhân bên trong.
- Các nguyên nhân khác như: đàm ẩm, chấn thương, rắn cắn…
A. – Nguyên nhân bên ngoài (ngoại nhân)
Sáu khí (Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hỏa) của khí hậu, khi biến đổi bình thường thì cơ thể thích nghi dễ dàng. Tuy nhiên, khi khí hậu không bính thường, thường gọi là trái gió… Trở trời… Thì lại là nguyên nhân gây bệnh gọi là Lục dâm, lục tà.
Các tà khí này, nhân cơ hội cơ thể suy yếu (chính khí hư) liền xâm nhập vào cơ thể gây ra bệnh (tà khí thịnh).
Tà khí luôn quan hệ với thời tiết, gây bệnh vào 1 mùa thích hợp như: mùa xuân hay gặp Phong tà, mùa hè hay gặp bệnh do Hỏa tà và Thử tà…
Mỗi tà khí, khi cảm nhiễm, thường dễ làm tổn thương Tạng phủ có quan hệ ngũ hành như: Phong tà hay làm hại Can, Hàn tà hay làm hại Thận…
Mỗi bệnh có thể do nhiều tà khí nhiễm vào và phối hợp với nhau: Phong – Hàn, Phong – Thấp…
Cần phân biệt có những trường hợp bệnh do ngoại cảm: Phong, Hàn, Thử, Thấp… Với trường hợp cũng do Phong Hàn… Bên trong cơ thể gây ra: Nội Phong, Nội Nhiệt… Tuy nhiên, mỗi loại tà khí đều có hội chứng riêng, cần phân tích kỹ chứng trạng bệnh để tìm ra nguyên nhân.
1. – Phong
a) Phân loại
Có 2 loại phong là:
- Ngoại Phong, thường gặp vào mọi mùa nhưng mùa xuân nhiều hơn cả. Thường gây bệnh đối với tạng Can, sách Nội kinh: Can ố Phong.
- Nội Phong: do rối loạn chức năng của Can gây nên, thường gọi là ‘Can Phong Nội Động’.
b) Đặc tính
- Phong mang đặc tính dương, dương thì động, do đó hay gây co rút, kinh giật.
- Phong là gió, gió nhẹ nên hay bốc lên, do đó đầu mặt hay bị (miệng giật, miệng méo, mắt xếch…) và đi ra ngoài gây ra sợ gió, gai rét…
- Phong khí gắn với Mộc khí, chủ sự chuyển động, do đó, hay di chuyển chỗ này chỗ khác, gọi là ‘Phong động’, thường gặp trong các chứng đau nhức khớp xương. Ngoài ra, Phong di động mau lẹ nên gây bệnh cũng nhanh và rút đi cũng nhanh, bệnh nặng đấy mà cũng nhẹ đấy.
- Sách ‘Y Tông Kim Giám': trên trời là Phong, dưới đất là Mộc, ở người là Can… Do đó, Can khí là Phong khí có liên hệ với nhau. Các bệnh về Phong khí, đều thuộc về Can.
c) Bệnh chứng của Phong
Phong có thể kết hợp với các tà khí khác gây bệnh, chủ yếu là kết hợp với Hàn tà, Nhiệt tà và Thấp tà.
c1. – Phong hàn:
do Phong tà và Hàn tà kết hợp với nhau, tuy nhiên trên thực tế lâm sàng, chứng này do Hàn tà nhiều hơn.
+ Cảm lạnh: chảy nước mũi, sợ lạnh (biểu hiện của Hàn) sợ gió, mạch phù (biểu hiện của Phong).
+ Thời tiết lạnh (Hàn tà) làm đau dây thần kinh ngoại biên (Phong).
+ Dị ứng lạnh (hắt hơi, ban chẩn) và đau khớp do lạnh.
c2. Phong nhiệt:
kết hợp Phong tà và Nhiệt tà, chủ yếu là do nhiệt tà ảnh hưởng đến phong tà:
+ Cảm sốt: sốt, họng viêm, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng (là dấu hiệu của hỏa vượng), mạch Phù, sợ gió (dấu hiệu của Mộc).
+ Mắt (dấu hiệu của Can Mộc) viêm, đau, đỏ (dấu hiệu của Hỏa vượng). C3. Phong thấp:
kết hợp giữa Phong tà và Thấp tà, do Thấp tà nhiều hơn gây ra:
+ Viêm khớp dạng Thấp (do máu huyết không thông bị ứ trệ, Tỳ ố thấp, Thấp khí làm cho Tỳ suy, không thống được huyết, huyết bị đình trệ gây ra tê mỏi, đau nhức ở các phần thần kinh ngoại biên.
c4. Nội phong:
do Can bị rối loạn gây ra:
+ Can chủ Cân, Can khí vượng lên, gây ra co giật.
+ Can dương vượng lên, gây ra nhức đầu, chóng mặt, huyết áp cao…
+ Can huyết hư không nuôi dưỡng được gân cơ, sinh ra liệt, chân tay co quắp…
2. – Hàn
a) Phân loại:
Hàn có 2 loại:
a1. Ngoại hàn:
Khí lạnh, hơi lạnh, thường gặp vào mùa đông, trời mưa, về khuya. Hàn khí xâm nhập vào cơ thể bằng 2 cách:
- Thương hàn: Hàn tà phạm vào phần Biểu bên ngoài.
- Trúng hàn: Hàn tà nhập thẳng vào tạng phủ.
a2. Nội hàn:
do dương khí trong cơ thể suy, không chống nổi hàn (dương hư sinh ngoại hàn).
b) Đặc tính
b1. Hàn là âm tà, do đó, thường làm hại dương (trong cơ thể phần Biểu, ngoài da, liên hệ đến Dương), do đó, Hàn tà dễ xâm nhập vào da, cơ, vệ, khí của cơ thể. Hàn tà xâm nhập vào Tỳ làm Tỳ dương hư, không vận hóa được thức ăn gây ra tiêu chảy, chân tay lạnh…
b2. Hàn tà có tính cách ngưng trệ, do đó khi xâm nhập vào cơ thể làm cho máu huyết đình trệ, đau nhức…
b3. Hàn có tính cách co rút do đó thường gây ra chứng co rút các cơ, chuột rút, cổ vẹo khó xoay trở…
- Sách ‘Y Tông Kim Giám': Trên trời là Hàn, dưới đất là Thủy, ở người là Thận… Vì thế, Thận khí thông với Hàn khí, các bệnh gây nên bởi Hàn khí đều có liên hệ đến Thận.
c) Bệnh chứng của hàn
Hàn thường kết hợp với Phong và Thấp, gây ra Phong hàn và Hàn thấp, Hàn thấp thường biểu hiện: Tiêu chảy, nôn do lạnh, bụng đau âm ỉ.
Cần để ý: Hàn tà vào kinh mạch thì gân xương đau nhức và co rút.
Hàn tà vào tạng phủ thì nôn ra nước trong, tiêu lỏng, bụng đau, thích chườm nóng, chân tay lạnh, mạch Trầm Trì.
d) Chứng nội hàn
Chứng Nội hàn hầu hết do dương hư (Dương hư sinh ngoại hàn), người dương hư, rất dễ bị cảm lạnh.
Trên lâm sàng thường gặp các loại sau:
+ Tỳ vị hư hàn: Tỳ dương suy kém, không vận hóa được thức ăn, gây nên: ỉa chảy, đầy bụng, ăn kém, bụng đau âm ỉ…
+ Thận dương hư: Thận ố hàn, Thận dương hư sinh ra sợ lạnh, tay chân lạnh, tiêu tiểu nhiều…
+ Tâm dương hư: Tâm chủ huyết, Tâm dương hư, không chuyển được huyết, gây ứ trệ, làm tắc động mạch vành…
+ Phế dương hư: Phế chủ khí, Phế dương hư, không thông được khí, gây khí nghịch làm khó thở, hen suyễn…
3. Thử
Thử là Nắng, thường gặp vào mùa Hè.
a) Đặc tính
+ Thử là dương tà, cho nên mang đặc tính sốt viêm nhiệt.
+ Tính hay thăng tán, do đó dễ làm tiêu hao tân dịch… Vào mùa hè vào những ngày nắng trời, người ta thường mất nhiều mồ hôi, khát nóng sốt.
+ Thường phối hợp với Thấp, nhất là cuối hè sang Thu, gây ra chứng Lî, tiêu chảy.
b) Chứng bệnh của Thử
Sốt cao, nhức đầu, khát nước, người buồn bực khó chịu, có mồ hôi, mạch hồng sác, chia làm 3 loại:
- Âm thử, còn gọi là Thương thử: do mùa Hè, chỉ ở trong mát, ăn nhiều thức ăn sống lạnh làm âm khí lấn át dương khí gây ra: sốt cao, do đó sợ lạnh, đầu đau, bụng đau, thổ tả, bản chất bệnh là hàn. – Dương thử còn gọi là trúng thử: do ở lâu ngoài nắng, bỗng ngã lăn ra mê man, không biết gì, bản chất là Nhiệt.
- Thử thấp: do mùa Hè lội nước, dầm mưa ở nơi ẩm thấp làm cho Thử hợp với Thấp xâm phạm vào ruột gây ra Lî, hoặc thổ tả.
4. Thấp
a) Phân loại:
Có 2 loại Thấp:
+ Ngoại thấp: khí ẩm thấp, thường gặp vào mùa Hè, thường gặp ở những nơi có độ ẩm thấp, đầm lầy…
+ Nội thấp: do Tỳ dương hư, không vận hóa được thủy dịch, làm thủy dịch ứ đọng lại gây bệnh.
b) Đặc tính của Thấp
+ Thấp chủ sự nặng nề, đình tre, do đó các chứng có kèm thêm Thấp thường thấy tay chân nặng nề.
+ Thấp hay gây dính, nhớt: miệng dính nhớt, tiểu khó.
+ Thấp bài tiết chất đục (trọc khí): đại tiện lỏng, nước tiểu đục, huyết trắng…
+ Thấp là âm tà, thường làm hại dương khí gây trở ngại cho khí vận hành. Thí dụ: Thấp làm dương khí của Tỳ giảm sút, ảnh hưởng đến sự vận hóa thủy dịch, gây phù thũng, tiêu hóa kém…
+ Sách ‘Y Tông Kim Giám’: Trên trời là Thấp, dưới đất là Thổ, ở người là Tỳ, Thấp khí thông với Tỳ khí, vì vậy các bệnh gây nên bởi thấp khí đều thuộc về Tỳ.
c) Chứng bệnh của Thấp
Thấp khí kết hợp với các tà khí khác gây ra bệnh như: Phong thấp, Hàn thấp, Thử thấp, Thấp nhiệt.
+ Thấp nhiệt là sự kết hợp giữa Nhiệt và Thấp, chủ yếu do Nhiệt: Kiết lî, nhiễm khuẩn ở bộ phận sinh dục, tiết niệu…
d) Chứng nội Thấp
Do Tỳ hư không vận hóa được Thủy thấp.
+ Ở Thượng tiêu: gây ra đầu nặng, mắt hoa, ngực sườn đầy tức.
+ Ở Trung tiêu: gây bụng đầy trướng, kém ăn, chậm tiêu, miệng dính, chân tay nặng nề.
+ Ở Hạ tiêu: gây phù chân, nước tiểu ít, huyết trắng.
5. Táo
a) Phân loại:
Có 2 loại Táo:
+ Ngoại táo: là độ khô ráo, hay gặp vào mùa Thu, chia làm 2 loại: Ôn Táo và Lương Táo, thường xâm phạm từ mũi, miệng, Phế và Vệ khí vào bên trong cơ thể.
+ Nội Táo: do tân dịch, khí huyết suy giảm gây nên.
b) Đặc tính:
Táo có tính cách khô ráo, do đó, hay làm tổn thương tân dịch và thủy dịch trong cơ thể gây ra: mũi khô, họng khô, da khô, đại tiện táo, nước tiểu ít, ho khan, ít đờm.
- Sách ‘Y Tông Kim Giám’: Trên trời là Táo, dưới đất là Kim, ở người là Phế, Táo khí thông với Phế khí, vì thế các bệnh gây ra bởi Táo khí đều thuộc về Phế.
c) Bệnh chứng của táo
- Lương Táo: Cảm phải gió heo may hiu hắt của mùa Thu (còn gọi là Phong Táo) gây ra: sốt, sợ lạnh. Đầu đau, ho khan, họng khô, mũi nghẹt, không có mồ hôi…
- Ôn Táo: Cảm phải khí mùa Thu, lạnh lâu không mưa gây nên (còn gọi là Nhiệt Táo) gây nên: Sốt cao, ít sợ lạnh, đầu đau, ngực đau, mũi khô, miệng khát, trong người bứt rứt, lưỡi đỏ… Hay gặp trong các bệnh truyền nhiễm về mùa Thu như: Sốt xuất huyết, Viêm não…
- Ôn táo hay làm khô tân dịch, do đó dễ gây mất điện giải sinh ra nhiễm độc hệ thần kinh và vận mạch: Hôn mê, vật vã, xuất huyết…
d) Chứng nội Táo
Do tân dịch khô kiệt, âm hư, dùng thuốc cay đắng và thuốc hạ lâu ngày làm da nhăn nheo, môi nứt nẻ, móng tay chân khô, khát nhiều, táo kết…
6. Hỏa
a) Phân loại:
Hỏa hay Nhiệt, thường có 2 loại: – Hư Hỏa: do âm hư, không kềm chế nổi Hỏa, khiến Hỏa vượng lên, thường gặp trong các chứng Âm hư hỏa vượng. – Thực nhiệt: do Hỏa khí và nhiệt khí bên ngoài gây nên. Thí dụ: đi nắng hoặc đứng gần lửa cháy, Hỏa khí trong người bị bùng theo lên gây ra nóng.
b) Đặc tính
- Thiên ‘Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận’ (TVấn 5) ghi: ‘Phương Nam sinh nhiệt’, do đó Hỏa khí thường gây sốt: sốt cao, họng đỏ, mặt đỏ…
- Hỏa hay bốc lên (như hình dáng ngọn lửa bốc cháy) vì thế hay gây ra viêm nhiệt ở phần trên. Thí dụ: Hỏa của Vị vượng, gây lở loét môi miệng, lợi răng… (Tỳ khai khiếu ở miệng).
+ Hỏa của Can vượng gây nên mắt sưng, mắt đau, mắt đỏ… (Can khai khiếu ở mắt).
+ Hỏa của Tâm vượng gây nên lưỡi lở loét sưng dộp… (Tâm khai khiếu ở lưỡi).
- ‘Tâm chủ huyết’ do đó, Hỏa dễ gây chảy máu: chảy máu cam (hỏa của Phế vượng), Tiểu ra máu (Hỏa của Thận vượng), Ói ra máu (Hỏa của vị vượng)…
- Hỏa vượng lên, phản khắc lại Thủy, do đó thường làm hao đốt tân dịch (thủy khí), gây ra khát nước, miệng khô, táo bón…
- Sách ‘Y Tông Kim Giám’: Trên trời là Hỏa, dưới đất là Nhiệt, ở người là Tâm… Hỏa khí thông với Tâm khí, do đó, các bệnh gây nên bởi Hỏa khí đều thuộc về Tâm.
c) Chứng bệnh của Hỏa
- Hỏa sinh Nhiệt, nhiệt có thể kết hợp với các khí khác gây nên bệnh như: Phong Nhiệt, Thấp Nhiệt, Thử Nhiệt, Táo Nhiệt…
- Vào mùa Hè (Hỏa khí vượng), hay gây nên các bệnh nhiễm khuẩn: mụn nhọt, phổi viêm, họng viêm… Nếu nhiệt quá độ, thành Hỏa, gây sốt rất cao, có khi mê sảng, phát cuồng…
- Gây các chứng bệnh truyền nhiễm ở thời kỳ toàn phát, có hoặc không có biền chứng mất nước, nhiễm độc thần kinh, chảy máu: Mặt đỏ, mắt đỏ, sợ nóng, khát, tiểu ít, đỏ, chảy máu cam, đại tiện ra máu… d) Chứng hư Nhiệt:
do Âm hư sinh nội nhiệt: gò má đỏ, trong lòng phiền nhiệt, ra mồ hôi trộm…
Cũng do thất (7) tình gây nên: Giận quá, làm Can hỏa bốc lên, Phòng dục quá độ làm Tường hỏa động, buồn thương quá làm Hỏa bốc lên Phế…
7. Dịch lệ
Cũng là 1 loại bệnh do tà khí lục dâm cảm nhiễm vào cơ thể gây nên, nhưng có tính chất lây lan thành những vụ dịch lớn, nhỏ như: cúm, sởi, quai bị…
B. – Nguyên nhân bên trong (nội nhân)
Nguyên nhân bên trong chủ yếu do thất tình gây nên. Vui (hỷ), giận (nộ), buồn (ai), thương (ái), ghét (ố), sợ (cụ), muốn (dục). Bảy tình này kích thích quá độ hoặc kéo dài, sẽ ảnh hưởng đến sự tuần hoàn của khí huyết làm rối loạn chức năng của tạng phủ gây nên bệnh: huyết áp cao, bao tử loét, thần kinh suy nhược… b) Thất tình và tạng phủ
- Tình chí bị kích động, tạng phủ sẽ biến hóa ra thất tình: can sinh ra giận dữ, tâm sinh ra vui mừng, Tỳ sinh ra nghĩ, phế sinh ra lo, thận sinh ra sợ…
- Thất tình gây tổn thương tinh, khí, huyết của cơ thể: giận quá hại can (nộ thương can), mừng quá hại tâm (hỷ thương tâm), lo quá hại hại tỳ (ưu thương tỳ), buồn quá hại phế (bi thương phế), sợ quá hại thận (khủng thương thận).
- Thất tình làm ảnh hưởng đến sự thăng giáng khí của tạng phủ: sách Nội Kinh: ‘Giận làm khí bốc lên, mừng làm khí hãm, buồn làm khí tiêu, sợ làm khí hạ, kinh làm khí loạn, nghĩ làm khí kết… ’.
Triệu chứng chung là: tính tình thay đổi, mừng giận buồn vui thất thường, mất ngủ, mộng nhiều, ăn kém, không biết đói, đầu đau, ngực tức, hay ngáp vặt, thở dài, mệt mỏi, nặng hơn thì tinh thần hốt hoảng, dễ kinh sợ, nói năng sai lạc, điên dại, ngẩn ngơ… Kèm theo những hội chứng rối loạn của tạng phủ như: tiểu nhiều (thận), thở mệt (phế)…
- Thất tình thường gây nhiều bệnh ở 3 tạng chính là tâm, tỳ và can.
+ Tâm: ngực đau tức, mất ngủ, hay quên, tinh thần không ổn định, cười nói huyên thuyên, điên cuồng…
+ Can: hay cáu gắt, hông sườn đầy tức, kinh nguyệt không đều…
+ Tỳ: ăn uống kém, biếng ăn, rối loạn tiêu hóa…
Có thể hiểu như sau: thất tình, biểu hiện của âm chứng: buồn, lo… Âm sinh âm, do đó, thường làm cho phần âm của cơ thể bị tổn hại, phần âm của cơ thể giữa gặp nhất chính là huyết. Ba tạng Tâm, Can và Tỳ liên hệ trực tiếp đến huyết (Tâm chủ huyết, Can tàng huyết và Tỳ thông huyết, do đó 3 tạng này thường chịu ảnh hưởng nhiều của thất tình.
C. – Những nguyên nhân khác (bất nội ngoại nhân)
Là tất cả những nguyên nhân khác, không do cảm nhiễm bởi tà khí lục dâm, cũng không phải do thất tình làm cơ thể suy yếu mà sinh bệnh, cụ thể là:
1. Đàm ẩm
a) Đại cương: đàm ẩm là chất đặc, ẩm là chất trong loãng. Đàm ẩm là 1 sản phẩm bệnh lý.
b) Nguồn gốc: do tân dịch ngưng tụ hóa thành. Chủ yếu do 3 tạng Tỳ, phế và thận không làm được công năng vận chuyển thủy dịch gây nên, Tỳ vận hóa thủy thấp, đưa lên phế, Phế truyền xuống cho Thận thải ra ngoài. Nếu 1 trong 3 tạng trên bị suy kém, không vận hóa được thủy dịch, thủy dịch đọng lại gây nên đàm ẩm.
c) Tác động: Sau khi hình thành, đàm ẩm theo khí vận chuyển trong cơ thể, gây ảnh hưởng đến sự vận hành khí huyết, sự thăng giáng của khí, gây ra bệnh.
d) Bệnh chứng của đàm ẩm:
d1. Đàm:
+ Đàm đình trệ ở phế, gây hen suyễn, khạc đàm…
+ Đàm đình trệ ở tâm, che lấp làm tâm không khai thông được sinh ra điên cuồng, lưỡi cứng không nói được…
+ Đàm đình trệ ở ngực gây ra tức ngực, suyễn.
+ Đàm nghịch lên ở phía trên gây ra chứng huyền vựng (chóng mặt).
+ Đàm đình trệ ở kinh Thiếu dương gây ra sốt rét.
d2. Ẩm:
+ Ẩm tràn ra cơ nhục gây phù thũng.
+ Ẩm tràn ra ngực sườn gây ho suyễn.
+ Ẩm vào Tỳ gây sôi bụng, đầy bụng, kém ăn…
e) Hội chứng bệnh do đàm ẩm gây ra:
+ Phong đàm: hoa mắt, chóng mặt, đột nhiên ngã qụy, khò khè, miệng méo, lưỡi cứng không nói được, thường gặp nơi người Động kinh.
+ Nhiệt đàm: đầu mặt nóng, táo bón, họng đau, điên cuồng…
+ Hàn đàm: ho ra đàm lỏng, xương đau dữ dội, mạch trầm trì…
+ Thấp đàm: người nặng nề, mệt mỏi…
+ Lao hạch: còn được gọi là Tràng nhạc, Loa lịch, hạch lao thường ở cổ, bẹn (háng) thành khối hạch, không nóng đau, khi vỡ hay loét ra chất bã đậu, khó lành miệng vết thương.
+ Huyền ẩm: mạn sườn đau, khó thở, thường gặp trong chứng tràn dịch màng phổi (phổi nước).
+ Yêm ẩm: Yêm là tràn, do đó, người thường thấy nặng nề, phù tay chân, không có mồ hôi, sợ lạnh… Hen suyễn, mặt phù…
2. Ứ huyết
Là sự vận hành khí huyết không thông, xung huyết hoặc xuất huyết cục bộ.
Thường do khí hư, khí trệ khiến cho huyết ngưng trệ hoặc xuất huyết trong cơ thể.
- Những biểu hiện của ứ huyết:
+ Đau: Nội Kinh
‘Thông tắc bất thống, thống tắc bất thông’ (Lưu thông thì không đau, đau là do không thông), đau ở đây thường do xung huyết gây chèn ép, thường đau cố định 1 chỗ, ấn vào thấy đau hơn.
+ Sưng: thành khối, hay gặp trong ngoại khoa là gẫy xương, ngã, bong gân… Hoặc ứ huyết ở các tạng phủ.
+ Xuất huyết nội: như đại tiện ra máu, rong huyết… Hoặc xuất huyết dưới da như trong trường hợp sốt xuất huyết, ngộ độc…
3. Ăn uống
- Số lượng thức ăn: ăn nhiều quá gây bội thực. Ăn ít quá không đủ năng lượng cho cơ thể, gây mỏi mệt…
- Chất lượng thức ăn: Thức ăn không cung cấp đủ lượng sinh tố cần thiết cho cơ thể, gây suy dinh dưỡng… Những thức ăn mốc, kém phẩm chất gây ngộ độc, ung thư… Thức ăn chế biến không đúng quy cách, thí dụ: luộc rau quá nhừ làm mất sinh tố, chiên xào với quá nhiều mỡ dễ gây ra chứng xơ mỡ động mạch. Rán nướng quá cháy dễ gây ung thư…
Ngoài ra cần để ý đến những yếu tố gây bệnh đối với từng tạng phủ: Thức ăn lạnh quá, làm Tỳ vị hư hàn, thận suy yếu. Thức ăn cay, nóng gây táo bón…
4. Sang chấn, trùng thú cắn
Có những loại do té ngã, bị đâm chém, chấn thương do té ngã, do bị súc vật cắn…
Tóm kết về nguyên nhân gây bệnh
3 loại nguyên nhân trên có liên hệ mật thiết với nhau. Nguyên nhân bên ngoài khó xâm nhập vào cơ thể nếu cơ thể khỏe mạnh. Nguyên nhân bên trong cũng phát sinh hoặc phát triển nặng hơn nhờ sự hỗ trợ của các nguyên nhân khác. Thí dụ: trong lòng buồn phiền gặp thêm khung cảnh buồn bên ngoài càng làm buồn thêm, vì thế, Nguyễn Du, trong ‘Đoạn Trường Tân Thanh’ đã ghi: ‘Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ’.
Như vậy, 1 rối loạn cục bộ không thể không ảnh hưởng đến toàn thân và sự suy yếu toàn cơ thể không thể không ảnh hưởng tới bệnh ở cục bộ.
3.3. Nguyên nhân tình dục:
- Tiết chế tình dục là một biện pháp bảo vệ sức khoẻ.
- Hoạt động tình dục quá độ có ảnh hưởng đến sức khoẻ và cũng là một trong những yếu tố dẫn đến bệnh tật.
Người xưa nói: "Hiếu sắc hại Tâm, đa dâm hại Thận"
Tứ chẩn
1. Nhìn (vọng chẩn)
1.1. Vọng thần: quan sát thần sắc của người bệnh, phản ánh tình trạng hoạt động về tinh thần, ý thức, tạng phủ bên trong cơ thể biểu hiện ra ngoài. Khi xem cần xác định:
- Còn thần: mắt sáng, tỉnh táo là bệnh nhẹ, chính khí chưa suy, công năng tạng phủ còn tốt.
- Không còn thần: thờ ơ, lãnh đạm, tinh thần mệt mỏi, nói không có sức...biểu hiện bệnh nặng, chính khí đã suy, chữa bệnh khó khăn và lâu dài.
- Hiện tượng giả thần: bệnh đang rất nặng, đột nhiên người bệnh tỉnh táo, ánh mắt sáng bất thường đây là dấu hiệu nguy kịch, chính khí sắp thoát.
1.2 Xem sắc: thường xem sắc mặt, người bình thường sắc mặt tươi nhuận, khi có bệnh thường có biến đổi sau:
a, Sắc đỏ do nhiệt: cần phân biệt mặt đỏ do thực nhiệt hay do hư nhiệt:
- Do thực nhiệt thì toàn mặt đỏ đều: sốt do nhiễm khuẩn, say nắng
- Do hư nhiệt: gặp ở người mắc bệnh lâu ngày, sốt về chiều, đêm, cặp nhiệt độ không cao, hai gò má đỏ, do âm hư sinh nội nhiệt.
b, Sắc vàng do hư, do thấp: Tỳ mất kiện vận, thuỷ thấp không hoá, khí huyết giảm sút, bì phu không được nuôi dưỡng nên có màu vàng.
- Chứng vàng da (hoàng đản): sắc vàng tươi, sáng là do thấp nhiệt.
- Sắc vàng ám tối là do hàn thấp.
- Sắc mặt hơi vàng là Tỳ hư.
c, Sắc trắng do hư, hàn, mất máu
- Sắc mặt trắng, hơi phù: thận dương hư
- Bệnh cấp tính đột nhiên sắc mặt trắng là dương khí sắp thoát.
d, Sắc đen do hàn, chứng đau, huyết ứ, thận hư tinh khí suy kiệt
1.3. Xem lưỡi
Rêu lưỡi: là chất bám trên bề mặt của lưỡi.
- Rêu lưỡi trắng mỏng: hàn ở biểu
- Rêu lưỡi vàng: chứng nhiệt, bệnh ở lý
- Rêu lưỡi xám đen: bệnh nặng
- Rêu lưỡi dày: bệnh đã vào phần lý
- Rêu lưỡi khô: âm hư, mất tân dịch hoặc cực nhiệt
- Rêu lưỡi dày dính là thấp nhiều.
Chất lưỡi: là xem tổ chức cơ và niêm mạc của lưỡi
- Chất lưỡi nhạt: bệnh hư hàn, khí huyết hư
- Chất lưỡi đỏ: thuộc nhiệt chứng
- Chất lưỡi xanh tím: nếu khô là cực nhiệt , nếu ứơt thì cực hàn hoặc ứ huyết
- Lưỡi bệu: thuộc hư chứng
- Lưỡi lệch: do trúng phong
- Lưỡi run: do Tâm, Tỳ, khí, huyết, hư hoặc nghiện rượu.
2. Văn chẩn: (nghe và ngửi)
2.1. Nghe âm thanh
- Tiếng nói nhỏ, thều thào không ra hơi thuộc hư chứng
- Mê sảng là nhiệt vào Tâm bào
- Nói ngọng, nói khó là trúng phong
- Tiếng thở to, mạnh là thực chứng
- Tiếng ho mạnh là Phế thực nhiệt
- Tiếng ho yếu: Phế âm hư
- Ho kèm theo hắt hơi: do phong hàn
- Trẻ em ho cơn dài, có tiếng rít và nôn mửa là ho gà.
2.2. Mùi phân và nước tiểu
- Phân loãng có mùi tanh: tỳ hư
- Phân mùi chua hoặc thối khẳm: thực tích
- Nước tiểu rất khai và đục: do thấp.
3. Vấn chẩn:
3.1. Hỏi về hàn nhiệt
* Cảm giác sợ lạnh
- Bệnh mới mắc mà sợ lạnh: cảm phong hàn
- Bệnh lâu ngày mà sợ lạnh, chân tay lạnh: do thận dương hư
- Chân tay lạnh, đau bụng, ỉa chảy buổi sáng sớm: thận dương hư
* Phát sốt:
- Sốt nhẹ, nhức đầu sổ mũi, sợ lạnh: do phong hàn
- Sốt cao, ra mồ hôi nhiều, khát nước, mặt đỏ, lưỡi đỏ, vật vã: lý thực nhiệt
- Sốt nhẹ về chiều, gò má đỏ, ra mồ hôi trộm, nhức trong xương, lòng bàn chân, và lòng bàn tay nóng: âm hư hoả vượng.
- Lúc sốt nóng, lúc sốt rét: chứng bán biểu bán lý
3.2. Hỏi về mồ hôi
- Sốt, không ra mồ hôi: biểu thực nhiệt
- Sốt, ra mồ hôi nhiều: lý thực nhiệt
- Tự ra mồ hôi: do dương hư (tự hãn)
- Tự ra mồ hôi ban đêm khi ngủ: do âm hư (đạo hãn)
3.3. Hỏi về đau
* Đau đầu:
- Đau vùng chẩm, vai, gáy: thuộc kinh thái dương
- Đau vùng trán, tai, mắt: thuộc kinh dương minh
- Đau nửa đầu vùng thái dương: thuộc kinh thiếu dương
- Đau vùng đỉnh đầu: thuộc quyết âm Can
- Đau khắp đầu như bó chặt: do Tỳ thấp
* Đau ngực:
- Đau ngực kèm theo sốt cao, ho, đờm quánh là do Phế nhiệt.
- Đau ngực lâu ngày, hay tái phát: do đàm ẩm
- Ngực sườn đầy tức: do Can khí uất
* Đau lưng:
- Đau ê ẩm nặng nề, ngủ dậy đau nhiều, vận động đau giảm: do phong thấp.
- Đau lưng do mang vác nặng hoặc sai tư thế : do huyết ứ.
- Đau lưng lâu ngày, bệnh hay tái phát, thể trạng yếu, khi vận động đau tăng : do Can Thận âm hư.
* Đau bụng:
- Đau bụng kèm theo đầy hơi, ợ chua: do thực tích
- Đau bụng có liên quan đến bữa ăn, đau giảm sau ăn, sợ xoa nắn, thích chườm nóng: thuộc chứng thực hàn
- Đau bụng đầy hơi, khi đau chỗ này, lúc đau chỗ khác : do khí trệ
3.4. Hỏi về ăn uống
* Cảm giác khát:
- Khát, thích uống nước mát: do thực nhiệt
- Khát không muốn uống: do hàn thấp
- Thích uống nước nóng, uống lạnh đầy bụng là do dương hư.
* Thèm ăn:
- Thèm ăn, ăn nhiều, mau đói: do Vị nhiệt
- Đói mà không muốn ăn: do Vị âm hư
- Ăn thức ăn mát, lạnh bụng đầy chướng: do Tỳ dương hư
* Cảm giác trong miệng.
- Miệng đắng: nhiệt ở Can, Đởm
- Miệng chua, hôi: nhiệt ở Vị, Trường
- Miệng hôi: do Vị nhiệt
- Miệng nhạt: gặp ở chứng hư, đàm trệ
- Miệng ngọt: do thấp nhiệt ở Tỳ
- Miệng mặn: do Thận hư
3.5. Hỏi về ngủ
- Mất ngủ kèm theo hồi hộp, hay mê: do Tâm huyết hư
- Trằn trọc khó vào giấc ngủ: do âm hư hoả vuợng
- Ngủ nhiều: chứng dương hư âm thịnh.
3.6. Hỏi về đại tiện
* Táo bón: bệnh mới mắc, ở người khoẻ: do thực nhiệt.
ở người già, yếu: do âm hư, huyết hư, khí hư.
* ỉa lỏng:
- Phân thối khắm: do tích trệ, lý nhiệt
- Phân ít thối: do Tỳ Vị hư hàn
- Ỉa lỏng buổi sáng sớm: do Thận dương hư
- Phân trước rắn sau lỏng: do Tỳ Vị hư
- Đại tiện nhiều lần kèm đau, mót rặn: thấp nhiệt Đại trường
3.7. Hỏi về tiểu tiện
- Nước tiểu ít, nóng, màu đậm: thực nhiệt
- Nước tiểu trong, nhiều: hư hàn
- Đái buốt, đái rắt, nước tiẻu đậm màu: thấp nhiệt BQ
- Đái luôn, mót đái, đái đêm nhiều lần: Thận khí hư
3.8. Hỏi về kinh nguyệt
- Kinh nguyệt sớm trước kỳ, màu đỏ tươi, lượng nhiều: do huyết nhiệt
- Kinh nguyệt muộn sau kỳ, mầu thẫm, có cục, đau bụng trước khi hành kinh: do hàn hoặc huyết ứ
- Hành kinh muộn, lượng ít, màu nhạt: do huyết hư
- Khí hư màu trắng, nhiều: Tỳ Thận hàn thấp
- Khí hư vàng dính, hôi: thấp nhiệt
4. Thiết chẩn (xem mạch, sờ nắn)
4.1. Mục đích:
Đánh giá tình trạng hư, thực của khí, huyết, vị trí nông sâu và tính chất hàn nhiệt của bệnh.
4.2. Nơi xem mạch:
Thường xem mạch ở thốn khẩu (động mạch quay ở cổ tay)
Thốn khẩu được chia làm 3 bộ vị: thốn, quan, xích. Bộ quan ngang với mỏm châm quay, bộ thốn lui về phía bàn tay, bộ xích ở phía khuỷu tay.
Cách phân định bộ vị như sau
Bộ vị
|
Tay trái thuộc huyết
|
Tay phảithuộc khí
|
Thốn
|
Tâm, Tiểu trường
|
Phế, Đại trường
|
Quan
|
Can, Đởm
|
Tỳ, Vị
|
Xích
|
Thận âm, Bàng quàng
|
Thận dương, Tam tiêu
|
4.3. Cách xem mạch
Thầy thuốc ngồi theo hướng vuông góc hướng ngồi của bệnh nhân.
Người bệnh để ngửa bàn tay trên một gối mỏng.
Thầy thuốc dùng 3 ngón tay: ngón giữa đặt vào bộ quan, ngón trỏ đặt vào bộ thốn, ngón nhẫn đặt vào bộ xích.
Khoảng cách giữa 3 ngón tay phụ thuộc vào người bệnh cao, thấp, lớn, nhỏ.
Thầy thuốc tập trung tư tưởng để cảm nhận những biểu hiện của mạch.
Khi xem mạch có 3 độ ấn tay: nhẹ, vừa, sâu.
Lúc đầu xem tổng quát cả 3 bộ, sau xem từng bộ.
4.4. Các loại mạch chủ yếu
- Mạch bình thường, mạch vị trí trung án (ấn vừa thấy mạch đập rõ nhất) hoà hoãn, mạch xích và mạch quan có lực
- Mạch phù (nổi): đặt nhẹ tay thấy mạch đập rõ, ấn vừa thấy đập yếu đi, ấn mạnh không thấy đập, phản ánh bệnh còn ở biểu.
- Mạch trầm (chìm): ấn mạnh mới thấy mạch đập (ở người béo cũng có mạch trầm, cần phân biệt) phản ánh tình trạng bệnh ở phần lý.
- Mạch xác (nhanh): mạch trên 90 lần/ phút, phản ánh bệnh thuộc chứng nhiệt
- Mạch trì (chậm): mạch dưới 60 lần/ phút, phản ánh bệnh thuộc chứng hư, chứng hàn.
- Mạch hữu lực: khi ấn hơi mạnh, mạch vẫn đập, thành mạch mềm mại, không căng cứng, phản ánh bệnh thuộc thực chứng.
- Mạch vô lực (không có lực): khi ấn hơi mạnh, mạch không đập nữa, thành mạch mềm như không có sức chống lại phản ánh bệnh thuộc hư chứng.
4.5. Sờ nắn
- Sờ da lòng bàn tay, lòng bàn chân nóng do âm hư .
- Cả chân tay đều lạnh do dương hư.
- Da căng, khô do Phế nhiệt.
- Nắn bụng: tìm u cục, điểm đau
- Ấn day bệnh nhân thấy dễ chịu (thiện án) thuộc hư chứng
- Ấn day đau, đẩy tay ra (cự án), thuộc thực chứng
- Bụng đầy, chướng hơi là Tỳ hư, khí trệ thuộc thực chứng.
- Ấn tìm điểm đau: tìm á thị huyệt, tìm xem đường kinh nào có bệnh (kinh lạc chẩn)
Bát cương
1. Biểu chứng: bệnh ở bì phu, kinh lạc, cân cơ, xương, khớp, bệnh cảm mạo và bệnh truyền nhiễm ở giai đoạn khởi phát.
Biểu hiện: phát sốt, sợ gió, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù, đau đầu, đau mình, ngạt mũi.
2. Lý chứng: bệnh ở bên trong, ở sâu, bệnh của các tạng phủ, huyết dịch, bệnh nội thương, bệnh nhiễm khuẩn, truyền nhiễm ở giai đoạn toàn phát.
Biểu hiện lâm sàng: sốt cao, khát nước, mê sảng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng , nước tiểu đỏ, nôn mửa, đau bụng, táo bón hoặc ỉa chảy, mạch trầm.
- Biểu lý kết hợp:
- Chứng bán biểu bán lý:
3. Hàn chứng: do hàn tà hoặc do dương hư
- Biểu hiện: sợ lạnh, thích nóng, miệng nhạt, không khát, sắc mặt xanh trắng, chân tay lạnh, nước tiểu trong dài, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, ướt bóng, mạch trì.
- Cần phân biệt với "giả hàn": gốc bệnh là nhiệt nhưng biểu hiện ra ngoài là hàn, như trong bệnh nhiễm trùng, bệnh truyền nhiềm, độc tố của vi khuẩn gây truỵ mạch biểu hiện da xanh tái, chân tay lạnh, mạch yếu (giả hàn)
4. Nhiệt chứng: do nguyên nhân bên ngoài là hoả, thử, nhiệt, táo hoặc do phong, hàn, thấp, đàm, khí, huyết uất kết mà hoá nhiệt .
- Chứng thực nhiệt phải dùng thuốc mát lạnh để thanh trừ.
- Chứng hư nhiệt phải dùng thuốc dưỡng âm để chữa.
- Nhiệt chứng biểu hiện: sốt cao, không sợ lạnh, sợ nóng, tiểu tiện ít và đỏ, rêu lưỡi vàng khô, mạch xác.
- Cần phân biệt với giả nhiệt: do bên trong chứng âm hàn cực mạnh, bức dương ra ngoài, hoặc là do sự chuyển hoá "hàn cực sinh nhiệt "của bệnh.
Ví dụ: chứng ỉa chảy do lạnh (chân hàn), đi nhiều lần dẫn đến mất điện giải, gây khát vật vã, miệng khô, mình nóng, thậm chí sốt (giả nhiệt)
5. Hư chứng: phản ánh sức đề kháng của cơ thể suy yếu (chính khí hư), dùng phương pháp bổ để nâng cao chính khí.
- Biểu hiện: vẻ mặt bơ phờ, mệt mỏi, kém linh hoạt, sắc mặt trắng bệch, gầy yếu, tiếng nói nhỏ, tự ra mồ hôi hoặc ra mồ hôi trộm, tiểu tiện luôn hoặc tiểu tiện không tự chủ, chất lưỡi nhạt, mạch nhỏ không có lực.
6. Thực chứng: sức đề kháng (chính khí) của cơ thể còn tốt, nguyên nhân gây bệnh (tà khí) cũng tấn công mạnh, phải dùng pháp tả để thanh trừ (hư thì bổ, thực thì tả)
- Biểu hiện: tiếng nói, tiếng thở to, mạnh, trong người phiền táo, bứt rứt, ngực bụng đầy tức hoặc có sưng, nóng, đỏ, đau, ấn đau (cự án), táo bón, đau quặn, mót rặn, bí đái, đái buốt, đái rắt, rêu lưỡi vàng, mạch có lực.
- Hư, thực lẫn lộn (thác tạp): khi chữa vừa dùng phép tả vừa dùng phép bổ để điều trị.
+ Thí dụ 1: bệnh nhân sốt cao, mặt đỏ, mắt đỏ, lưỡi đỏ, mạch xác, thở mạnh (thực chứng). Do sốt cao ra mồ hôi nhiều dẫn đến mất tân dịch (mất nước và điện giải) gây ra tình trạng khát nước, mệt mỏi, phờ phạc (hư chứng).
+ Thí dụ 2: bệnh nhân vốn có bệnh mãn tính, cơ thể suy nhược (hư chứng) lại mới mắc bệnh cấp tính như cảm mạo, bệnh nhiễm khuẩn (thực chứng)
7. Âm hư: phản ánh tình trạng tinh, huyết, tân dịch bị suy giảm, làm cho phần âm suy giảm sinh chứng nội nhiệt, phải dùng thuốc dưỡng âm, tư âm sinh tân dịch để điều trị.
- Biểu hiện: sốt nhẹ về chiều đêm, ho khan, môi miệng khô, họng ráo khát, gò má đỏ, ra mồ hôi trộm, lòng bàn tay và lòng bàn chân nóng, nhức trong xương, bứt rứt khó ngủ, lưỡi đỏ mạch tế xác.
- Cần phân biệt với dương chứng sinh ngoại nhiệt: do tà khí mạnh, nhiệt tà thịnh, do chức năng hoạt động của tạng phủ quá vượng. Biểu hiện: chân tay ấm nóng, sốt, tiếng nói to, tiếng thở to, mạnh, khát nước, mặt đỏ lưỡi đỏ, mạch phù xác có lực, phải dùng thuốc mát lạnh để trừ nhiệt tà, thuốc sinh tân để dưỡng âm dịch
8. Dương hư:
Phản ánh tình trạng dương khí bị giảm sút không đủ làm ấm cơ thể, chủ yếu do chức năng của tạng Tỳ và Thận suy giảm hoặc do hàn tà quá mạnh gây ra, phải dùng thuốc ôn ấm để trợ dương, thúc đẩy tạng phủ và trừ hàn.
- Biểu hiện: sợ lạnh, chân tay lạnh, ăn không tiêu, rối loạn tiêu hoá, ỉa chảy, đau lưng, mỏi gối, tiểu tiện đêm nhiều lần, di tinh, liệt dương, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch vô lực.
- Cần phân biệt với âm chứng sinh nội hàn: do cơ thể cảm nhiễm phải hàn tà, chức năng hoạt động của các tạng phủ bị suy giảm. Biểu hiện: người lạnh, chân tay lạnh, mệt mỏi, thở yếu, thích ấm nóng, không khát, tiểu trong, đại tiện lỏng, nằm quay mặt vào bóng tối, mạch phù trì.
Bát pháp
1. Phép hãn (làm ra mồ hôi)
Làm cho ra mồ hôi để đưa tác nhân gây bệnh (tà khí) ra ngoài cơ thể.
1.1. Chỉ định: ngoại tà còn ở phần biểu. Ví dụ:
- Do phong thấp dùng giải biểu trừ thấp như các bệnh: viêm khớp dạng thấp, đau thần kinh... Các vị thuốc thường dùng: hy thiêm, thổ phục linh, ké đầu ngựa, độc hoạt, khương hoạt, phòng phong...
- Cảm mạo phong nhiệt: cảm mạo có sốt, thời kỳ đầu các bệnh truyền nhiễm...Các vị thuốc thường dùng: sắn dây, bạc hà, lá dâu. Khi chữa cần châm tả các huyệt: phong môn, hợp cốc, đại truỳ, khúc trì, ngoại quan...
- Cảm mạo phong hàn: cảm lạnh, đau dây thần kinh do lạnh, liệt VII do lạnh, viêm mũi dị ứng do lạnh...Các vị thuốc thường dùng: quế, gừng, bạch chỉ, tế tân, ma hoàng...Khi chữa cần cứu các huyệt: liệt khuyết, đại truỳ.
1.2. Chống chỉ định:
- Bệnh đã vào phần lý
- Bệnh bán biểu bán lý
- Ỉa chảy mất nước, nôn mửa nhiều, thiếu máu
- Cần thận trọng đối với người già yếu, âm huyết hư, phụ nữ đang có thai, người mới ốm dậy, phụ nữ sau đẻ.
* Chú ý: mùa hè ra mồ hôi nhiều không nên phát hãn mạnh, sau khi ra mồ hôi không nên ra gió.
2. Phép thổ: (gây nôn)
Gây nôn để loại trừ chất độc, thức ăn (nhưng phải biết chắc là chất độc còn đang ở trong dạ dày)
Thuốc dùng: cuống dưa đá, thường sơn hoặc ngoáy họng gây nôn.
3. Phép hạ (sổ tẩy):
Làm sổ tẩy hoặc nhuận tràng để đưa bệnh tà ở Đại trường ra ngoài.
3.1. Chỉ định:
- Táo bón do các nguyên nhân: âm hư, khí hư, nhiệt tích ở đại trường
3.2 Chống chỉ định:
- Bệnh còn ở biểu
- Bệnh bán biểu bán lý
- Người già yếu, phụ nữ có thai, trẻ nhỏ.
4. Phép hoà (hoà hãn)
Chữa bệnh ở bán biểu, bán lý hoặc hoà giải các mối quan hệ giữa các tạng phủ
4.1. Chỉ định:
- Viêm loét dạ dầy tá tràng (thể Can khắc Tỳ)
- Suy nhược thần kinh do sang chấn tinh thần
- Thống kinh, rối loạn kinh nguyệt.
- Sốt rét
4.2. Chống chỉ định:
- Những trường hợp bệnh chứng đã rõ ở biểu hoặc ở lý.
5. Phép ôn (làm ấm cơ thể): chữa các chứng thực hàn, hoặc dương hư sinh hàn
- Chỉ định điều trị : trúng hàn, choáng truỵ mạch, Tỳ Vị hư hàn.
- Chống chỉ định: chứng thực nhiệt, âm hư sinh nội nhiệt, chân nhiệt giả hàn
- Huyệt thường dùng: cứu quan nguyên, khí hải, mệnh môn
6. Phép thanh:
Dùng để chữa các chứng thực nhiệt, giáng hoả sinh tân dịch, trừ phiền khát.
6.1. Chỉ định:
- Thanh nhiệt tả hoả: chữa sốt cao
Các vị thuốc thường dùng: thạch cao sống, chi tử, lá tre, rễ sậy...
Châm tả các huyệt: thập tuyên, đại truỳ, hợp cốc, ngoại quan, khúc trì
- Thanh nhiệt giải độc: chữa sốt do nhiễm trùng
Các vị thuốc thường dùng: kim ngân hoa, bồ công anh, Sài đất...
Châm tả các huyệt: ôn lưu, khúc trì, uỷ trung, huyết hải.
- Thanh nhiệt trừ thấp: chữa nhiễm khuẩn đường tiêu hoá, tiết niệu, sinh dục.
Các vị thuốc thường dùng: hoàng liên, hoàng bá, xuyên tâm liên.
Châm các huyệt: huyền chung, nội đình, thái xung, tam âm giao
- Thanh nhiệt lương huyết: chữa các chứng do huyết nhiệt sinh ra như mụn nhọt, cơ địa dị ứng, nhiễm khuẩn...
Các thuốc thường dùng: sinh địa, huyền sâm, địa cốt bì..
Châm huyệt: khúc trì, huyết hải
- Thanh nhiệt giải thử: chữa say nắng, say nóng
Thuốc dùng: dưa hấu, lá sen...
6.2. Chống chỉ định:
Chứng hàn, chân hoả suy, nhiệt do âm hư . chứng chân hàn giả nhiệt.
7. Phép tiêu:
Làm thông ứ trệ , tan các khối kết tụ và kích thích tiêu hoá
7.1. Chỉ định điều trị:
- Nhóm thuốc hành khí: chữa các chứng đau do co thắt, đầy chướng bụng.
Thuốc dùng: hương phụ, sa nhân, trần bì, mộc hương
Huyệt dùng: thiên khu, trung quản, túc tam lý.
- Nhóm thuốc hoạt huyết: chữa các chứng đau, các trường hợp huyết ứ, thường dùng phối hợp với thuốc hành khí.
Thuốc dùng: huyết giác, đan sâm, xuyên khung, ngưu tất, ích mẫu...
Châm huyệt: cách du, huyết hải, á thị huyệt.
- Nhóm thuốc tiêu đờm giảm ho:
Thuốc dùng: trần bì, cát cánh, hạnh nhân
Huyệt: phế du, xích trạch..
- Nhóm thuốc kích thích tiêu hoá: Thuốc dùng: sơn tra, mạch nha, thần khúc
Huyệt dùng: vị du, tỳ du, túc tam lý.
- Nhóm thuốc lợi tiểu tiêu phù: Thuốc dùng: sa tiền tử, mộc thông, tỳ giải.
Huyệt: thuỷ phân, xích trạch, hợp cốc.
7.2. Chống chỉ định:
- Người đang mang thai
- Thận trọng đối với những người suy kiệt
8. Phép bổ
Làm tăng cường chức năng tạng phủ để nâng cao chính khí, gồm có 4 loại sau:
8.1. Bổ âm
- Chữa chứng âm hư: người gầy yếu, họng khô, tai ù, thị lực giảm, hồi hộp sợ hãi, ra mồ hôi trộm, gặp trong các bệnh suy nhược thần kinh thể ức chế giảm, tăng huyết áp, đau nhức trong xương, lao.
- Thuốc dùng: mạch môn, thiên môn, sa sâm, khởi tử, thạch hộc, bạch thược…
8.2. Bổ dương
- Chữa chứng dương hư, gặp trong các bệnh suy nhược thần kinh thể hưng phấn giảm, hội chứng lão suy.
- Thuốc thường dùng: đỗ trọng, thỏ ty tử, ba kích, nhục thung dung, cẩu tích, phá cố chỉ, kim anh tử…
- Sử dụng phương pháp cứu các huyệt: quan nguyên, khí hải, mệnh môn, đại truỳ.
8.3. Bổ khí
- Chữa chứng khí hư, gặp trong suy nhược cơ thể, viêm đại tràng mãn, sa nội tạng…
- Thuốc thường dùng: đảng sâm, bạch truật, hoàng kỳ, hoài sơn, đại táo, cam thảo…
- Huyệt thường dùng : túc tam lý, tỳ du, vị du.
8.4. Bổ huyết
- Chữa các chứng huyết hư (thiếu máu), da xanh, miên mạc nhợt, móng chân, móng tay khô, hoa mắt, chóng mặt, ù tai , teo cơ, cứng khớp... thời kỳ hồi phục của các bệnh nhiễm khuẩn.
- Thuốc thường dùng: hà thủ ô, thục địa, đương quy, bạch thược, long nhãn.
- Huyệt thường dùng: cứu cao hoang, cách du, tỳ du.
* Chú ý:
- Không dùng thuốc bổ đơn thuần đối với các chứng thực
- Không dùng thuốc bổ âm cho các trường hợp dương hư và ngược lại.
LỊCH SỬ MÔN XOA BÓP BẤM HUYỆT
1.VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ XOA BÓP TRÊN THẾ GIỚI:
-Ở Ai cập, trên các bức tranh khắc trên đá, cách đây 5.000 năm, đã ghi lại hình những người đang xoa bóp.
-Hipôcrat (Người Hy lạp), y tổ phương Tây, đã khuyên dạy môn đồ dùng xoa bóp để chữa cứng khớp.
-Ở La mã, từ thời Cổ đại, xoa bóp được coi là môn bổ trợ sau khi tắm.
-Ở Ấn độ, gọi xoa bóp là Schamvahna (Săm – va -na ), xoa bóp luôn được thực hiện trong các buổi lễ tôn giáo, và sau buổi tập thở, tập Yoga.
-Ở Trung quốc, xoa bóp đã có một lịch sử rất lâu đời.; trong quyển Nội kinh Tố vấn, thiên “Dị pháp” (Chương 12) đã đề ra những phép xoa bóp và ngày càng phát triển.
-Ở các nước Châu âu, vào thế kỷ thứ 17, tại trường Đại học Y khoa , người ta đã tìm thấy nhiều luận án đề cập đến lợi ích của xoa bóp.
-Các nước Anh, Đức, Mỹ….môn xoa bóp cũng được phổ biến rộng rãi, đặc biệt là trong giới thể dục, thể thao.
2.VÀI DANH Y CỔ TRUYỀN Ở NƯỚC TA ĐÃ ĐỀ CẬP ĐẾN NHỮNG PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỆNH BẰNG XOA BÓP.
2.1.Tuệ Tĩnh: Vào thế kỷ thứ 14 đã tổng kết những kinh nghiệm xoa bóp thời bấy giờ để chữa một số bệnh (Sách Nam dược thần hiệu)
Thí dụ: Xoa với bột gạo tẻ để trị chứng ra nhiều mồ hôi.
Xoa với bột hoạt thạch và bột đậu xanh để trị rôm sảy.
Xoa với hạt cải ngâm dấm để chữa da thịt tê dại.
Xoa với hạt cải ngâm rượu để điều trị đau lưng.
Xoa với rươu. ngâm quế điều trị bại liệt.
2.2.Nguyễn Trực: Thế kỷ thứ 15, trong cuốn “Bảo anh lương phương” (Chữa bệnh cho trẻ em) đã đúc kết nhiều kinh nghiệm xoa bóp với các thủ thuật xoa, bấm, miết, vận động , kéo …..tác động lên kinh lạc , huyệt để điều trị các chứng đau bụng, ỉa chảy, lòi dom, tích trệ….
2.3.Đào Công Chính: Thế kỷ 18 , trong cuốn “Bảo sinh diên thọ toản yếu” đã tổng kết các phương pháp tự tập luyện, tự xoa bóp để phòng và trị bệnh.
2.4.Hải Thượng Lãn Ông: Thế kỷ 18, đã nhắc lại các phương pháp trị liệu bằng xoa bóp để phòng và trị bệnh trong cuốn “Vệ sinh yếu quyết”
3.ĐỊNH NGHĨA MÔN XOA BÓP:
Xoa bóp là một phương pháp phòng bệnh và chữa bệnh với sự chỉ đạo của lý luận y học cổ truyền. Đặc điểm của xoa bóp là dùng bàn tay, ngón tay là chính, tác động lên da, thịt, gân, khớp của người bệnh để đạt mục đích chữa bệnh, phòng bệnh.
Ưu điểm: Giản tiện: Vì chỉ dùng bàn tay là chính, có thể dùng trong bất kể hoàn cảnh nào và không bị lệ thuộc vào các phương tiện khác.
Có hiệu quả: Vì có phạm vi chữa bệnh rộng: có khả năng chữa một số bệnh cấp tính như nhức đầu, đau lưng cấp, cảm cúm…, cũng như một số bệnh mạn tính khác như thấp khớp, hội chứng dạ dày….
Có giá trị phòng bệnh lớn: Tự xoa bóp thì rất chủ động để giữ gìn sức khỏe.
4.NHỮNG NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ XOA BÓP:
-Xoa bóp là một phương pháp phòng bệnh và chữa bệnhnhư các phương pháp khác (Thuốc, Châm cứu)
-Có một số bệnh chứng có thể dùng xoa bóp để chữa như vẹo cổ, đau lưng, thấp khớp, rối loạn tiêu hóa, mệt mõi, cảm cúm.
Có những bệnh phải phối hợp với những phương pháp khác , mà xoa bóp chỉ ở vị trí thứ yếu như sốt cao cấp tính, cơn đau quặn thận, cơn đau quặn gan…..
5.NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý KHI CHỮA BỆNH BẰNG XOA BÓP:
5.1.Cần làm cho người bệnh tin tưởng vào phương pháp để người bệnh phối hợp với thầy thuốc.
Phát huy sự nổ lực chủ động trong quá trình chữa bệnh bằng cách giải thích rõ nguyên nhân gây bệnh.
Chỉ dẫn những điều kiêng cữ, những điều nên làm khi ở nhà.
5.2. Cần có chẩn đoán rõ ràng rồi mới tiến hành xoa bóp.
Không làm xoa bóp khi người bệnh quá đói hoặc quá no.
Bệnh nhân mới đến cần nghỉ 5 – 10ph trước khi xoa bóp.
Thủ thuật xoa bóp nặng nhẹ phải phù hợp với tình hình bệnh tật của người bệnh
Thí dụ: Lần đầu làm nhẹ nhàng; bắt đầu và kết thúc làm nhẹ. Làm ở nơi đau phải chú ý sức chịu đựng của bệnh nhân, không làm quá mạnh. Sau một lần xoa bóp, hôm sau bệnh nhân thấy mệt mỏi, tức là đã làm quá mạnh , lần sau cần phải nhẹ hơn.
5.3.Khi xoa bóp, thái độ thầy thuốc phải hòa nhã, nghiêm túc, luôn theo dõi diển tiến của người bệnh.
Đối với bệnh mới, nhất là bệnh nhân nữ, cần nói rõ cách làm để họ yên tâm, tránh hiểu lầm đáng tiếc.
6.LIỆU TRÌNH XOA BÓP VÀ THỜI GIAN MỘT LẦN XOA BÓP:
6.1.Một liệu trình điều trị từ 10 - -15 lần là vừa, để tránh hiện tượng lờn xoa bóp và ghiền xoa bóp.
Đối với chứng bệnh cấp tính mỗi ngày có thể làm 1 lần.
Đối với chứng bệnh mạn tính, có thể xoa bóp cách ngày hoặc 1 tuần 2 lần.
6.2.Thời gian một lần làm xoa bóp:
Nếu xoa bóp toàn thân : thời gian từ 45 – 60ph
Nếu xoa bóp từng bộ phận : thời gian từ 10 – 15ph./.
BS CKII. Huỳnh Tấn Vũ - ĐH Y Dược TP HCM
Nguồn gốc xoa bóp bấm huyệt
– bấm huyệt là phương pháp chữa bệnh đơn giản, phổ cập đã được hình thành từ lâu trong lịch sử y học và được ứng dụng rộng rãi, có kết quả chữa bệnh tốt. xoa bóp - bấm huyệt là phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc, chủ yếu là dùng đôi bàn tay nhưng lại có tác dụng với nhiều chức năng và các hệ thống cơ quan trong cơ thể; phạm vi chỉ định khá rộng, nhất là các bệnh rối loạn cơ năng. Hiệu quả của xoa bóp, bấm huyệt, trình độ , kinh nghiệm của người thầy thuốc; mặt khác còn phụ thuộc vào trạng thái tâm lý. bệnh lí của người bệnh.
- Khái niệm
Xoa bóp là phương pháp dùng đôi bàn tay tác động vào da, cơ, gân, khớp của cơ thể con người nhằm mục đích nâng cao sức khỏe, phục hồi chức năng, phòng và chữa bệnh.
Khi nói xoa bóp – bấm huyệt là nói tới việc chú trọng bấm huyệt trong xoa bóp. Bấm huyệt là thủ thuật khó đòi hỏi kỹ thuật cao và trình độ lý luận tốt thì mới đạt
hiệu quả mong muốn.
I – NGUỒN GỐC
Y học hiện đại và y học dân tộc đều có xoa bóp. Xoa bóp của y học hiện đại được lý luận của y học hiện đại chỉ đạo, xoa bóp của y học dân tộc được lý luận của y học dân tộc chỉ đạo. Nhìn chung xoa bóp bằng tay của hai nền y học đều giống nhau chỉ khác nhau một số thủ thuật. Ngày nay do tiến bộ của khoa học kỹ thuật nên xoa bóp của y học hiện đại có các phương tiện máy móc hỗ trợ.
Xoa bóp có từ lâu đời và ngày càng được phát triển. Từ thời xa xưa con người đã biết dùng đôi bàn tay khéo léo để xoa bóp, vuốt ve nhằm làm dịu những đau đớn trên cơ thể. Trên các di chỉ khảo cổ, trên những chữ viết vào lau sậy, trên các hình vẽ của kim tự tháp, đền chùa, trong các sách vở viết cách đây mấy ngàn năm đều nhận thấy cách xoa bóp trong nền y học dân gian ở nước nào cũng có. Có thể nói xoa bóp là một cách chữa bệnh được ra đời sớm nhất. Nó được xây dựng và phát triển trên cơ sở những kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình đấu tranh với bệnh tật và bảo vệ sức khỏe của con người.
Ở nước ta từ thời Hồng Bàng dựng nước (cách đây 2900 năm trước CN) nhân dân ta đã biết dùng lá ngải cứu, lá cúc tần xoa bóp chờm nóng, lá trầu không hơ nóng sát vào vùng cạnh thắt lưng, dùng hoa chổi xể ngâm rượu để xoa bóp . . . Từ đó tới nay xoa bóp ngày càng phát triển, trong chế độ phong kiến đã hình thành ba nhóm người làm xoa bóp. Một số người mù làm tầm quất ngoài đường với các thư pháp nhẹ nhàng như: bóp, chặt, đấm, bẻ các khớp đổ gây cảm giác khoan khoái dễ chịu, giảm mệt nhọc, đau lưng, mỏi gối, giảm đau mỏi các bắp thịt sau nhưng giờ lao động mệt nhọc. Một số người được trưng dụng xoa bóp cho bọn vua quan phong kiến qua các triều đại vua chúa. Một số lương y chữa bệnh bằng xoa bóp tại nhà với những môn phái khác nhau.
Trong sách vở của các nhà danh y nổi tiếng đã nghi lại dùng xoa bóp để phòng bệnh và chữa bệnh. Tuệ Tĩnh ở thế kỷ XIV đã đề cập đến xoa bóp trong cuốn "Hồng nghĩa giác tư y thư". Hoang Đơn Hòa ở thế kỷ XVI đã đề cập đến huyệt xoa bóp trong cuốn "Hoạt nhân toát yếu”, Hải thượng lãn ông đã đề cập tới xoa bóp trong cuốn "Vệ sinh yếu quyết".
Cách mạng tháng tám thành công nền y học dân tộc được giải phóng đến năm 1957 Viện y học dân tộc được thành lập, hiện nay đã có phòng xoa bóp có các bác sĩ và lương y chuyên xoa bóp để điều trị một số bệnh như đau thần kinh tọa, viêm quang khớp vai, đái dầm, vẹo cổ cấp tính, đau lưng cấp, đau lưng mãn, dị chứng bại liệt, dị chứng tai biến mạch máu não, suy nhược thần kinh, viêm gân, thấp khớp mãn v. v... đã đưa lại kết quả tốt. Đồng thời đã biên soạn tài liệu giảng dạy cho sinh viên chuyên khoa y học dân tộc, các bác sỹ y học dân tộc, phổ biến trong trong lĩnh vực thể dục thể thao, trong các trại điều dưỡng, các chuyên gia y tế nước ngoài.
Hiện nay phong trào xoa bóp bảo vệ sức khỏe đang phát triển rộng khắp, câu lạc bộ ngoài trời của các cụ về hưu, sau một thời gian luyện tập thấy sức khỏe tăng lên, bệnh mãn tính giảm đi nhiều.
Tóm lại xoa bóp ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong phòng bệnh và chữa bệnh. Nó đơn giản dễ làm, ít xảy ra tai biến, không phụ thuộc vào phương tiện máy móc thuốc men, đã giải quyết được một số bệnh cấp tính và mãn tính.
II- TÁC DỤNG CỦA XOA BÓP
1. Tác dụng đối với da
Da có tầm quan trọng rất lớn đối với cơ thể. Nó bao bọc cơ thể con người và nó có diện tích vào khoảng 15.000 cm2. Trong cơ thể, da thải hơi nước gấp đôi phổi, nó cũng là cơ quan thẩm thấu và hô hấp, da còn tham gia vào quá trình chuyển hóa nước, muối, aubumin và vitamin. Da là cơ quan nhận cảm tức là nhận những kích thích nóng lạnh (trong đó có xoa bóp), truyền kích thích vào hệ thống thần kinh trung ương và tiếp nhận những phản ứng trả lời của cơ thể đối với kích thích đó. Vì vậy khi xoa bóp có tác dụng trực tiếp đến da và thông qua da ảnh hưởng đến toàn thân.
a) Ảnh hưởng cục bộ: khi xoa bóp lớp sừng của biểu bì được bong ra làm cho hô hấp của da được tốt hơn mặt khác tăng cường chức năng của tuyến mỡ, tuyến mồ hôi nên sự đào thải các chất cặn bã qua các tuyến mồ hôi được tốt hơn. Xoa bóp làm cho mạch máu giãn tăng cường tuần hoàn động mạch và tĩnh mạch có lợi cho việc dinh dưỡng ở da, làm cho da co giãn tốt, da bóng đẹp và mịn, có tác dụng tốt đối với chức năng bảo vệ cơ thể của da, mặt khác xoa bóp có thể làm cho nhiệt độ của da tăng lên do mạch tại chỗ và toàn thân giãn.
b. Ảnh hưởng đến toàn thân: khi xoa bóp các chất nội tiết của tế bào được tiết ra thấm vào máu và có thể tăng cường hoạt động của mạch máu và thần kinh ở da. Mặt khác thông qua phản xạ thần kinh, xoa bóp có tác động đến toàn cơ thể.
Như vậy xoa bóp đã có tác đụng đối với toàn thân: tăng cường hoạt động của thần kinh; nâng cao quá trình dinh dưỡng và năng lực hoạt động của cơ thể.
2. Tác dụng đối với hệ thần kinh
Xuất phát từ học thuyết về thần kinh của set-sẽ-Nốp và Páp-lốp trong cơ thể, tác dụng của xoa bóp đối với cơ thể thì vai trò của hệ thần kinh là chủ đạo. Tất cả các chức năng của cơ thể người ta đều do hệ thần kinh điều khiển. Cơ thể thông qua hệ thần kinh có những phản ứng đáp lại tích cực đối với những kích thích của xoa bóp.
a) Rất nhiều tác giả cho rằng: xoa bóp có ảnh hưởng rất lớn đối với hệ thần kinh thực vật nhất là đối với hệ giao cảm, qua đó gây nên những thay đổi trong một số nội tạng và mạch máu.
Ví dụ:
Xoa bóp gáy, lưng, vai, ngực có thể gây lên những thay đổi ở các cơ quan do thần kinh thực vật ở cổ chi phối và các cơ quan do trung khu thực vật cao cấp ở chất xám não thất III chi phối. Do đó xoa bóp vùng đó điều trị các bệnh về mũi họng, cao huyết áp, trạng thái thần kinh như mất ngủ, rối loạn dinh dưỡng ở tay, đau nửa đầu do vận mạch.
Xoa bóp vùng thắt lưng cùng, gồm da ở vùng trên thắt lưng, mông đến nếp mông nửa dưới bụng và 1/3 trên của đùi. Xoa bóp tác động đến vùng gây phản xạ thần kinh thực vật thắt lưng - cùng điều khiển một cơ quan chậu lớn nhỏ, chi dưới, sinh dục, nó có tác dụng dinh dưỡng khi có bệnh về hệ mạch chấn thương ở chân, giảm co thắt mạch, hàn gắn vết thương, dinh dưỡng các vết loét.
Phát C7 có thể gây phản xạ cơ tim (co lại)
Xoa bóp vùng thượng vị cũng ảnh hưởng đến chức năng của dạ dày - Tá tràng, bàng quang và nhanh dương.
b) Xoa bóp có thể gây lên thay đổi điện não:kích thích nhẹ nhàng gây hưng phấn, kích thích mạnh thường gây ức chế.
3. Tác dụng đối với cơ, gân, khớp:
a) Đối với cơ: xoa bóp có tác dụng làm tăng tính đàn hồi của cơ, tăng năng lực làm việc, sức bền của cơ và phục hồi sức khỏe cho cơ nhanh hơn khi không xoa bóp, khi cơ làm việc quá căng gây lên phù nề co cứng và đau, xoa bóp có thể giải quyết các chứng này. Ngoài ra nó có tác dụng tăng dinh dưỡng cho cơ vì vậy xoa bóp chữa teo cơ rất tốt.
b) Đối với gân khớp:xoa bóp có khả năng tính co giãn, tính hoạt động của gân, dây chằng, thúc đẩy việc tiết dịch trong cơ khớp và tuần hoàn quanh khớp. Nó có thể dùng để chữa bệnh khớp.
4. Tác dụng đối với hệ tuần hoàn
Đối với huyết động: Một mặt xoa bóp làm giãn mạch, trở lực trong lòng mạch giảm đi, mặt khác xoa bóp trực tiếp đẩy máu về tim, do đó xoa bóp vừa giảm gánh nặng cho tim vừa giúp máu trở về tim tốt hơn.
Đối với người huyết áp cao ít luyện tập xoa bóp có thể làm hạ áp.
Xoa bóp trực tiếp ép vào lâm ba cầu, nên giúp cho tuần hoàn lâm ba nhanh và tốt hơn, đo đó có thể có tác dụng tiêu sưng.
d) Trong khi xoa bóp số lượng hồng cầu, tiểu cầu hơi tăng, xoa bóp trở về như cũ, số lượng bạch cầu, huyết sắc tố cũng có thể tăng.
Sự thay đổi nhất thời này có tác dụng tăng cường sự phòng vệ của cơ thể.
5. Tác dụng đến hệ bạch huyết:
Trong cơ thể con người, ngoài hệ thống mạch máu ra còn có một hệ thống nữa là hệ bạch huyết. Hệ bạch huyết gồm có một hệ thống mao mạch bạch huyết, mạch và bạch huyết trong đó bạch huyết chuyển động. Mạch bạch huyết tựa như một hệ thống lọc loại bỏ chất thừa của chất dịch mô hoặc dịch vệ trong các cơ quan.
Xoa bóp giúp cho việc vận chuyển bạch huyết được tăng cường. Dòng máu va dòng bạch huyết tăng trước tiên tạo điều kiện giảm hiện tượng ngừng trệ và sự tiết dịch ở vùng khớp, ổ bụng và có tác dụng tiêu nề.
6) Tác dụng đối với các chức năng
a) Đối với hô hấp: khi xoa bóp thở sâu: có thể do trực tiếp kích thích vào thành ngực và phản xạ thần kinh gây nên, do đó có tác giả dùng xoa bóp để chữa các bệnh phế khí thũng, hen phế quản, xơ cứng phổi... để nâng cao chức năng thở và ngăn chặn sự suy sụp của chức năng thở.
b) Đối với tiêu hóa: có tác dụng tăng cường nhu động của dạ dày, của ruột và cải thiện chức năng tiêu hóa khi chức năng tiết dịch tiêu hóa kém, dùng kích thích mạnh để tăng tiết dịch. Khi chức năng tiết dịch tiêu hóa quá mạnh, dùng kích thích vừa và nhẹ để giảm tiết dịch.
c) Đối với quá trình trao đổi chất: xoa bóp làm tăng lượng nước tiểu bài tiết ra nhưng không thay đổi độ acid trong máu. Có tác giả nêu lên, xoa bóp 2, 3 ngày sau, chất nitơ trong nước tiểu tăng lên và kéo dài vài này do tác dụng phân giải Prôtít của xoa bóp gây nên. Xoa bóp toàn thân có thể tăng nhu cầu về dưỡng khí 10 – 18%, đồng thời cũng tăng lượng bài tiết thán khí.
Kỹ thuật xoa bóp
I. Mục tiêu
1- Mô tả được 19 động tác xoa bóp trong YHCT.
2- Lựa chọn được một số động tác thích hợp để điều trị 7 chứng bệnh thường gặp tại cộng đồng.
II. Nội dung
1. Nguồn gốc và tác dụng của xoa bóp
1.1. Nguồn gốc:
- Xoa bóp là phương pháp chữa bệnh, phòng bệnh hiệu quả, dễ áp dụng, mọi người đều có thể làm được.
Xoa bóp của YHCT được lý luận YHCT chỉ đạo, không bị các phương tiện khác chi phối.
Xoa bóp của YHHĐ được lý luận của YHHĐ chỉ đạo và các phương tiện hiện đại hỗ trợ.
1.2. Tác dụng của xoa bóp:
- Tác dụng đối với hệ thần kinh:
Xoa bóp có ảnh hưởng rất lớn đối với hệ thần kinh thực vật nhất là đối với hệ giao cảm, qua đó gây nên những thay đổi trong một số hoạt động của nội tạng và mạch máu.
Xoa bóp có thể gây nên những thay đổi điện não. Kích thích nhẹ thường gây hưng phấn, kích thích mạnh thường gây ức chế.
- Tác dụng đối với da:
Có tác dụng trực tiếp đến da và thông qua da ảnh hưởng đến toàn thân và cục bộ.
- ảnh hưởng toàn thân: có tác dụng tăng cường hoạt động của thần kinh, nâng cao quá trình dinh dưỡng và năng lực cơ thể.
- ảnh hưởng cục bộ: xoa bóp làm cho mạch máu giãn, làm hô hấp của da tốt hơn, có lợi cho việc dinh dưỡng ở da, làm cho da co giãn tốt hơn có tác dụng tốt đối với chức năng bảo vệ cơ thể. Mặt khác xoa bóp có thể làm nhiệt độ của da tăng lên.
- Tác dụng đối với cơ, gân, khớp:
Xoa bóp có tác dụng làm tăng tính đàn hồi của cơ và tăng dinh dưỡng cho cơ thể vì vậy có khả năng chống teo cơ.
Xoa bóp có khả năng tăng tính co giãn, tính hoạt động của gân, dây chằng, thúc đẩy việc tiết dịch trong cơ khớp và tuần hoàn quanh khớp, dùng chữa bệnh khớp.
- Tác dụng đối với tuần hoàn
+Tác dụng đối với động lực máu: xoa bóp làm giãn mạch, làm giảm gánh nặng cho tim và giúp máu trở về tim tốt hơn.
+ Xoa bóp giúp cho tuần hoàn máu nhanh và tốt hơn, bạch cầu đến nhanh hơn, do đó có tác dụng tiêu viêm.
+ Xoa bóp làm thay đổi số lượng hồng cầu, bạch cầu. Sự thay đổi nhất thời này có tác dụng tăng cường sự phòng vệ của cơ thể.
- Tác dụng đối với các chức năng khác
+ Đối với hô hấp: khi xoa bóp thở sâu, có thể do trực tiếp kích thích vào thành ngực, phản xạ thần kinh gây nên, do đó dùng xoa bóp để nâng cao chức năng thở và ngăn chặn sự suy sụp của chức năng thở.
+ Đối với tiêu hoá: xoa bóp có tác dụng tăng cường nhu động của dạ dày, của ruột, cải thiện chức năng tiêu hoá và tiết dịch của dạ dày và ruột.
+ Đối với quá trình trao đổi chất: xoa bóp làm tăng lượng nước tiểu bài tiết ra nhưng không thay đổi độ a xít trong máu, xoa bóp toàn thân có thể tăng nhu cầu về dưỡng khí 5- 10%, đồng thời cũng tăng lượng bài tiết thán khí.
2- Nội dung cơ bản:
* Yêu cầu đối với thủ thuật xoa bóp:
Thủ thuật phải dịu dàng, song có tác dụng thấm sâu vào da thịt, làm được lâu và có sức.
* Tác dụng bổ tả của thủ thuật:
Thường làm chậm rãi, nhẹ nhàng, thuận đường kinh, có tác dụng bổ, làm mạnh nhanh, ngược đường kinh có tác dụng tả.
2.1. Các thủ thuật:
2.1.1. Xát
Dùng gốc gan bàn tay, mô ngón tay út hoặc mô ngón tay cái xát lên da theo hướng thẳng (đi lên, đi xuống hoặc sang phải, sang trái).
Toàn thân chỗ nào cũng xát được. Nếu da khô hoặc ướt cần dùng dầu hoặt bột tan bôi để làm trơn da.
* Tác dụng: thông kinh lạc, dẻo gân cốt, lý khí, làm hết đau, hết sưng, khu phong tán hàn, kiện Tỳ Vị, thanh nhiệt.
2.1.2 . Xoa :
Là thủ thuật mềm mại, thường dùng ở bụng hoặc nơi có sưng đỏ.
Dùng gốc gan bàn tay, vân ngón tay, hoặc mô ngón tay út, mô ngón tay cái xoa tròn lên da chỗ đau.
* Tác dụng: lý khí, hoà trung (tăng cường tiêu hoá), thông khí huyết làm hết sưng giảm đau.
2.1.3. Day:
Dùng gốc bàn tay, mô ngón tay út hoặc mô ngón tay cái, hơi dùng sức ấn xuống da người bệnh và di chuyển theo đường tròn, da người bệnh di động theo tay thầy thuốc, thường làm chậm, còn mức độ nặng nhẹ tuỳ tình trạng bệnh lý. Là thủ thuật mềm mại hay làm ở nơi đau, nơi nhiều cơ.
* Tác dụng: làm giảm sưng, hết đau, khu phong thanh nhiệt, giúp tiêu hoá.
2.1.4. ấn:
Dùng ngón tay cái, gốc bàn tay, mô ngón tay út hoặc mô ngón tay cái ấn vào huyệt hay một nơi nào.
* Tác dụng thông kinh lạc, thông chỗ bị tắc, tán hàn, giảm đau.
2.1.5. Miết:
Dùng vân ngón tay cái miết chặt vào da người bệnh rồi miết theo hướng lên hoặc xuống, sang phải, sang trái. Tay thầy thuốc di động và kéo căng da của người bệnh, hay dùng làm ở vùng đầu, vùng bụng.
* Tác dụng: khai khiếu, trấn tĩnh, bình Can giáng hoả (làm sáng mắt) , trẻ em ăn không tiêu.
2.1.6. Phân
Dùng vân các ngón tay hoặc mô ngón tay út của hai tay từ cùng một chỗ tẽ ra hai bên theo hướng trái ngược nhau, tay của thầy thuốc làm như sau:
- Có thể chạy trên da người bệnh khi hai tay phân ra và đi cách xa nhau.
- Có thể dính vào da người bệnh, da người bệnh bị kéo căng hai hướng ngược nhau khi hai tay phân ra và cách nhau không xa lắm. Hay làm ở các vùng đầu, bụng, ngực, lưng
* Tác dụng: hành khí, tán huyết, bình Can, giáng hoả.
2.1.7. Hợp:
Dùng vân các ngón tay hoặc mô ngón út của hai bàn tay từ hai chỗ khác nhau đi ngược chiều và cùng đến một chỗ tay của thầy thuốc như ở thủ thuật phân. Hay làm ở các vùng đầu, ngực, bụng , lưng.
* Tác dụng: bình can, Giáng hoả, nâng cao chính khí, giúp tiêu hoá.
2.1.8. Véo:
Dùng ngón tay cái, ngón tay trỏ hoặc đốt thứ hai của ngón cái với đốt thứ ba của các ngón trỏ kẹp và kéo da lên, hai tay làm liên tiếp làm cho da người bệnh luôn luôn như bị cuốn ở giữa ngón tay của thầy thuốc. Có thể dùng ở toàn thân, hay dùng ở vùng lưng, trán.
* Tác dụng: bình can, giáng hoả , thanh nhiệt, khu phong tán hàn, lý trung, nâng cao chính khí.
2.1.9. Bấm:
Dùng đầu ngón tay cái hoặc ngón tay trỏ bấm vào vị trí nào đó hoặc vào huyệt. Hay dùng vùng đầu, mặt , Nhân trung, tứ chi .
* Tác dụng : làm tỉnh người
2.1.10. Điểm:
Dùng ngón tay cái, đốt thứ hai ngón trỏ, giữa hoặc khuỷu tay, dùng sức ấn thẳng góc vào huyệt hoặc vị trí nhất định. Đó là thủ thuật tả mạnh nhất của xoa bóp. Căn cứ vào tình trạng bệnh hư hay thực mà dùng sức cho thích hợp. Thường dùng ở mông, tứ chi, thắt lưng.
* Tác dụng: khai thông chỗ bế tắc, tán hàn giảm đau.
2.1.11. Bóp:
Dùng ngón tay cái và các ngón khác bóp vào thịt hoặc gần nơi bị bệnh.
Có thể xoa bóp bằng hai ngón tay, ba , bốn, năm ngón tay, vừa bóp vừa hơi béo thịt lên. Không nên để thịt hoặc gân trượt dưới tay vì làm như vậy gây lên đau. Dùng ở vùng cổ, gáy, vai, nách, tứ chi.
* Tác dụng: giải nhiệt, khai khiếu, khu phong tán hàn, thông kinh lạc.
2.1.12. Đấm:
Nắm chặt tay lại, dùng ô mô út đấm vào chỗ bị bệnh thường dùng ở nơi nhiều cơ như lưng, mông, đùi.
* Tác dụng: thông khí huyết, tán hàn, khu phong.
2.1.13. Chặt:
Duỗi tay: dùng mô ngón út chặt liên tiếp vào chỗ bị bệnh thường dùng ở nơi nhiều thịt.
Nếu dùng ở đầu thì xoè tay: dùng ngón út chặt vào đầu người bệnh, khi chặt ngón út đập vào ngón nhẫn, ngón nhẫn đập vào ngón giữa, ngón giữa đập vào ngón trỏ tạo thành tiếng kêu.
* Tác dụng: thông khí huyết, tán hàn, khu phong.
2.1.14. Lăn:
Dùng mu bàn tay, ô mô út hoặc dùng các khớp giữa bàn và ngón tay hoặc dùng các khớp ngón tay, vận động nhẹ nhàng khớp cổ tay với một sức ép nhất định lần lượt lăn trên da thịt bệnh nhân, thường lăn ở nơi nhiều cơ và nơi đau.
* Tác dụng: khu phong, tán hàn, thông kinh hoạt lạc, làm lưu thông khí huyết, do đó giảm đau, làm khớp vận động được dễ dàng.
Thủ thuật này có tác dụng thấm sâu vào da thịt, diện kích thích lớn, hay được dùng trong tất cả các trường hợp xoa bóp.
2.1.15. Phát:
Bàn tay hơi khum khum, giữa lòng bàn tay lõm, các ngón tay khít lại với nhau phát từ nhẹ đến nặng vào chỗ bị bệnh, khi phát da đỏ lên do áp lực không khí trong lòng bàn tay thay đổi gây nên, chứ không có vết lằn cả ngón tay như khi để thẳng ngón tay phát. Thường dùng ở vai, tứ chi, thắt lưng, bụng
* Tác dụng: thông kinh lạc, mềm cơ, giảm sức căng.
2.1.16. Rung:
Người bệnh ngồi thẳng, hai tay buông thõng hơi nghiêng người về phía bên kia. Thầy thuốc đứng, hai tay nắm cổ tay người bệnh kéo hơi căng, hơi dùng sức rung từ nhẹ đến nặng chuyển động như làn sóng từ tay lên vai, vừa rung vừa đưa tay bệnh nhân lên xuống từ từ và cuối cùng giật nhẹ một cái. Động tác này dùng ở tay là chính.
* Tác dụng: làm trơn khớp, giảm nhiệt, mềm cơ, giảm mệt mỏi.
2.1.17. Vê:
Dùng ngón tay trỏ và ngón cái vê theo hướng thẳng, thường dùng ở ngón tay, ngón chân và các khớp nhỏ.
* Tác dụng làm trơn khớp, thông khí huyết.
2.1.18. Vờn:
Hai bàn tay hơi cong bao lấy một vị trí rồi chuyển động ngược chiều kéo theo cả da thịt người bệnh chỗ đó chuyển động theo. Chú ý dùng sức phải nhẹ nhàng, vờn từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Thường dùng ở tay, chân, vai , lưng, sườn.
* Tác dụng: bình Can giải uất, thông kinh lạc, điều hoà khí huyết.
2.1.19. Vận động:
Một tay cố định phía trên khớp cần vận động, một tay vận động khớp theo phạm vi hoạt động bình thường của mỗi khớp.
Nếu khớp hoạt động bị hạn chế, cần kéo khớp giãn ra trong khi vận động và phải hết sức chú ý đến phạm vi hoạt động của khớp lúc đó, làm từ từ tăng dần, tránh làm quá mạnh gây đau cho người bệnh.
- Khớp đốt sống cổ: một tay để ở cằm, một tay để ở chẩm hai tay vận động ngược chiều nhau một cách nhẹ nhàng, sau đó đột nhiên làm mạnh một cái nghe tiếng kêu khục.
- Các khớp cột sống lưng: bệnh nhân nằm nghiêng, chân dưới duỗi thẳng, chân trên co, tay phía dưới để trước mặt, tay phía trên để quặt sau lưng, một cẳng tay thầy thuốc để ở mông, một cẳng tay để rãnh den ta ngực, hai tay vận động ngược chiều nhau một cách nhẹ nhàng, sau đó đột nhiên làm mạnh một cái sẽ phát ra tiếng kêu khục.
* Tác dụng: thông lý, mở khớp, tán nhiệt, làm tăng sức hoạt động của các chi.
Mỗi lần xoa bóp chỉ dùng một số thủ thuật, tuỳ tình trạng bệnh, tuỳ nơi bị bệnh mà chọn thủ thuật cho thích hợp. Hay dùng nhất là xoa, rung, đấm, bóp, ấn, vờn, lăn, vận động.
2.2. Ứng dụng xoa bóp điều trị 7 chứng bệnh thường gặp ở cộng đồng
2.2.1. Xoa bóp điều trị đau đầu:
- Xoa bóp vùng đầu, nếu do ngoại cảm thêm xoa bóp cổ gáy.
- Nếu do nội thương: thêm xoa bóp lưng
* Thủ thuật xoa bóp đầu:
Dùng các huyệt : ấn đường, Thái dương, Bách hội, Phong trì, Phong phủ, Đầu duy
Các thủ thuật véo hoặc phân, hợp, day, ấn, miết, bóp, vờn, chặt.
Tư thế người bệnh: nằm hoặc ngồi tuỳ tình trạng người bệnh.
+ Véo hoặc miết hoặc phân vùng trán:
+ véo dọc trán từ ấn đường lên chân tóc rồi lần lượt véo hai bên từ ấn đường toả ra như nan quạt cho hết trán 3 lần.
+ miết: hai ngón tay miết từ ấn đường toả ra hai bên thái dương, làm sát lông mày trước rồi dồn lên cho hết trán 3 lần.
+ phân hợp: dùng hai ngón tay cái phân hợp cả vùng trán một lúc 3 lần.
+ Véo lông mày từ ấn đường ra hai bên 3 lần. Nếu thấy da cứng đau hơn chỗ khác, tác động thêm để da mềm trở lại.
Chú ý : người bệnh thấy đau nhiều, có thể chảy nước mắt vẫn làm, chỉ cần động tác dịu dàng, sau đó véo nhẹ huyệt ấn đường.
+ Day huyệt Thái dương 3 lần, miết từ Thái dương lên huyệt Đầu duy rồi miết qua tai ra sau gáy 3 lần.
+ Vỗ đầu: hai tay để đối diện, vỗ quanh đầu theo hai hướng ngược nhau, vỗ hai vòng.
+ Gõ đầu: dùng thủ thuật chặt bằng ngón tay, gõ đầu người bệnh.
+ Bóp đầu: hai bàn tay bóp dần theo hướng ra trước, lên trên, ra sau.
+ ấn Bách hội, Phong phủ
+ Bóp Phong trì, bóp gáy.
+ Bóp vai và vờn vai
2.2.2. Xoa bóp điều trị đau vai gáy:
* Nguyên nhân: do gối đầu cao, do lạnh, do sang chấn…
* Cách chữa: Xoa bóp vùng cổ gáy
Phương pháp bật gân
* Kỹ thuật xoa bóp vùng cổ gáy:
Dùng huyệt: Phong phủ, Phong trì, Đại truỳ, Kiên tỉnh, Phế du, Đốc du.
Thủ thuật: lăn, day, bóp, ấn, vận động, vờn.
Trình tự thao tác xoa bóp:
Bệnh nhân ngồi:
- Day vùng cổ gáy: đau một bên thì dùng một tay day bên đau. Đau hai bên thì dùng hai tay để day, động tác nhẹ, dịu dàng.
- Lăn vùng Phong trì, Đại truỳ, Kiên tỉnh, vừa làm vừa vận động nhẹ cổ người bệnh.
- ấn các huyệt Phong phủ, Phế du, Đốc du. Khi ấn Phong phủ phải để một tay ở giữa trán người bệnh, một tay ấn.
- Vận động cổ có nhiều cách:
+ Quay cổ: một tay để ở cằm, một tay để ở xương chẩm người bệnh, hai tay di chuyển trái chiều nhẹ nhàng, từ từ, đột nhiên làm mạnh một cái, lúc đó có thể gây tiếng kêu ở khớp.
+ Ngửa cổ: cẳng tay để sau gáy người bệnh, tay kia để ở trán, ngửa cổ, cúi cổ người bệnh vài lần rồi đột nhiên ngửa mạnh ra sau, có thể gây tiếng kêu ở cổ.
+ Tổng hợp các động tác ở cổ: đứng sau người bệnh một tay để dưới cằm một tay để ở vùng chẩm, dùng sức nhấc đầu lên và vận động cổ (quay nghiêng, ngửa, cúi) vài lần.
Chú ý: khi vận động cổ, người bệnh phải kết hợp chặt chẽ với thầy thuốc, không lên gân, không kháng cự, như vậy thủ thuật mới đạt kết quả.
- Bóp huyệt Phong trì và gáy
- Bóp vai, vờn vai
* Phương pháp bật gân:
- Thầy thuốc xác định huyệt Đốc du (nằm ngang với D6, chỗ cuối cùng của cơ thang, cách mỏm gai đốt sống 2 thốn). ấn vào người bệnh cảm thấy nhức và xuyên lên vai là đúng.
- Dùng đầu ngón tay cái ấn vào chỗ gân đó, đưa về phía xương sống, rồi lại bật ra ngoài, sau đó day 1 phút, người bệnh sẽ quay cổ được. Nếu chưa hết đau, bóp cơ ức đòn chũm.
2.2.3. Xoa bóp điều trị đau lưng:
* Nguyên nhân thường do phong hàn thấp, thận hư, do ngoại thương.
* Cách chữa: xoa bóp vùng lưng đau, day những vùng huyệt đau, nếu do thận hư động tác làm nhẹ nhàng hơn. Nếu do ngoại thương làm từ ngoài chỗ đau sau mới vào nơi đau, từ nhẹ đến mạnh.
- Dùng huyệt: Đại trữ, Phế du, Cách du, Thận du, Mệnh môn.
- Thủ thuật: Day, ấn, đấm, lăn, phân, hợp, véo, phát.
* Kỹ thuật:
- Tư thế người bệnh: nằm sấp hai tay để ở tư thế như nhau, hoặc xuôi theo chân, hoặc để lên đầu, đầu để trên gối. Nếu là viêm dính đốt sống thì ngực cần cách giường 5 - 10 cm (lúc đó cần gối cao). Các trường hợp khác ngực để sát giường.
- Day rồi đấm hai bên thắt lưng
- Lăn hai bên thắt lưng và cột sống
- Tìm điểm đau ở vùng lưng, day từ nhẹ đến mạnh, ấn các huyệt Phế du, Can du, Cách du.
- Phân hợp hoặc véo hai bên thắt lưng
- Phát huyệt Mệnh môn 3 cái
Chú ý: đau lưng do vận động mạnh gây nên thường ấn đau ở huyệt Thận du, cách du
hoặc xung quanh Mệnh môn.
2.2.4. Xoa bóp điều trị đau thần kinh hông:
* Nguyên nhân do phong hàn và phong hàn thấp
* Cách chữa: xoa bóp vùng lưng và chi dưới
* Trình tự xoa bóp: Tư thế người bệnh nằm sấp
+ Day từ thắt lưng dọc xuống đùi 3 lần
+ Lăn từ thắt lưng xuống cẳng chân 3 lần
+ Bóp từ thắt lưng xuống cẳng chân 3 lần
+ Bấm các huyệt Hoa đà, Giáp tích ở L4 - L5, Thận du, Đại trường du, Thượng liêu, Thứ liêu, Hoàn khiêu, Thừa phù, Uỷ trung, Thừa sơn.
+ Uốn chân: một tay bấm sát cột sống, một tay nâng đầu chân đau lên.
+ Vận động cột sống:
+ Bệnh nhân nằm ngửa, gấp duỗi đùi vào ngực 3 lần, đến lần thứ 3 khi duỗi ra giật
mạnh một cái.
+ Phát thắt lưng 3 cái
2.2.5. Xoa bóp chữa liệt dây VII ngoại biên
* Nguyên nhân thường do lạnh, do viêm nhiễm và do sang chấn.
* Cách chữa: xoa bóp vùng mặt
Trình tự thao tác: Tư thế bệnh nhân nằm
- Đẩy Toán trúc: dùng ngón tay cái miết từ Tình minh lên Toán trúc 10 lần.
- Dùng ngón cái miết từ Toán trúc ra Thái dương 10 lần.
- Day vòng quanh mắt tránh day vào nhãn cầu 10 vòng.
- Xát má 10 lần
- Xát lên cánh mũi 10 lần
- Phát Nhân trung và Thừa tương 20 lần
- Ấn day huyệt Toán trúc, Ngư yêu, Thái dương, Nghing hương, Địa thương, Giáp xa, Hợp cốc bên đối diện.
2.2.6. .Xoa bóp điều trị mất ngủ
* Thường do suy nhược cơ thể, tăng huyết áp, hen ...
* Cách chữa : xoa bóp toàn thân, nhất là ở vùng cột sống .
* Chọn các thủ thuật nhẹ nhàng xát, véo, ấn, day, miết.
* Trình tự xoa bóp:
- Dùng đầu ngón tay miết hai bên cột sống 2 - 3 lần.
- Dùng mu tay sát sống lưng người bệnh 2 - 3 lần
- Véo da từ Trường cường lên Đại truỳ. Da người bệnh phải luôn cuộn dưới tay thầy thuốc, véo 3 lần
- Véo da lần thứ hai kết hợp với kéo da ở các vị trí sau:
+ Nếu tâm căn suy nhược: kéo da từ L2 - D5
+ Nếu tăng huyết áp : kéo da từ L2 - D9
+ Nếu hen : kéo da từ L2 - D11 - D12
- ấn các huyệt sau:
+ Nếu tâm căn suy nhược: Thận du, Tâm du
+ Nếu tăng huyết áp: Thận du, Can du
+ Nếu hen: Thận du, Tỳ du, Phế du
- Xát sống lưng theo đường kinh Bàng quang từ trên xuống dưới huyệt Thận du. Phân ra hai bên thắt lưng
2.2.7. Xoa bóp điều trị di chứng liệt nửa người
* Nguyên nhân: do tai biến mạch máu não, bại liệt, viêm não.
* Cách chữa xoa bóp nửa người bên liệt
* Trình tự:
- ở vùng đầu: Tư thế nằm
+ Day huyệt Thái dương 3 lần: miết từ Thái dương lên Đầu duy rồi miết vòng qua tai ra sau gáy 3-5 lần.
+ ấn Bách hội, bóp Phong trì, bóp gáy.
+ Lăn vùng Phong trì, Đại truỳ, Kiên tỉnh 3 lần
- ở vùng tay:
+ Day vùng vai, lăn vùng vai 3 lần
+ Bóp và lăn cánh, cẳng tay 3 lần
+ ấn các huyệt Kiên tỉnh, Kiên ngung, Khúc trì, Ngoại quan, Hợp cốc
+ Vê các ngón tay rồi kéo dãn
+ Rung tay, phát Đại trùy
- ở vùng chân:
+ Day đùi và cẳng chân (ở mặt trước ngoài) 3 - 5 lần
+ Lăn đùi và cẳng chân 3- 5 lần. Bóp từ đùi đến cẳng chân 3- 5 lần
+ ấn các huyệt Hoàn khiêu, Dương lăng truyền, Túc tam lý, Huyền chung.
+ Phát từ đùi xuống cẳng chân 3 lần
+ Vê các ngón chân và kéo dãn


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét